2012 - Năm của "tổng tiến công" vào hoạt động chuyển giá, thất thu và nợ thuế

Thứ sáu 30/03/2012 10:00

TS.Nguyễn Xuân Sơn - Tổng cục Thuế

TCTC Online - Nhằm góp phần tăng thu ngân sách nhà nước, phấn đấu hoàn thành vượt mức kế hoạch đã được Quốc hội, Chính phủ và Bộ Tài chính giao, trong năm 2012 ngành Thuế đưa ra nhiều giải pháp nhằm tăng cường công tác quản lý thu thuế, chống thất thu ngân sách nhà nước.

2012 - Năm của

“Tổng tiến công” vào lĩnh vực chuyển giá, thất thu và nợ đọng thuế

Theo chỉ đạo của Bộ Tài chính, năm 2012 các cục thuế tập trung xử lý các khoản nợ đọng thuế, triển khai các biện pháp cưỡng chế nợ thuế để thu hồi nợ đọng và hạn chế phát sinh số nợ thuế mới. Năm 2011, ngành Thuế đã đạt nhiều kết quả khả quan trong công tác chống chuyển giá. Theo đó, toàn ngành Thuế đã thanh tra, kiểm tra tại 50.276 doanh nghiệp (DN), xử lý truy thu, truy hoàn và phạt qua thanh tra, kiểm tra 7.582 tỷ đồng, bằng 138,8% so năm 2010, giảm khấu trừ qua thanh tra, kiểm tra là 567 tỷ đồng, giảm lỗ qua thanh tra, kiểm tra là 11.021 tỷ đồng. Mặc dù kết quả bước đầu rất đáng khen ngợi song nhiệm vụ này trong năm 2012 còn rất nặng nề và không ít khó khăn.

Tính đến nay, tổng số tiền nợ thuế trên sổ theo dõi nợ thuế của cục thuế trong cả nước cho thấy nợ đọng thuế đang có dấu hiệu gia tăng. Theo số liệu thống kê của Cục Thuế Bình Định, nợ thuế của DN ở tỉnh này tính đến ngày 31/12/2011 đạt gần 210 tỷ đồng, trong đó, riêng nợ khó thu đã trên 41 tỷ đồng. Số nợ năm qua tăng ở hầu hết các nhóm: Nhóm nợ khó thu tăng 14,7%, nhóm nợ chờ xử lý tăng 61,8%. Trong khi đó, Hải Dương, tổng nợ thuế lũy kế tính đến ngày 30/11/2011 vẫn ở mức cao trên 496 tỷ đồng, trong đó, nợ khó thu là 58,5 tỷ đồng. Tại địa bàn lớn là TP.Hồ Chí Minh, đến nay có hơn 400 DN nợ thuế, trong đó có 4 DN nợ thuế trên 10 tỷ đồng… Một số địa phương có nợ năm 2011 tăng trên 50% so với năm 2010 như: An Giang, Bắc Ninh, Bình Phước, Cao Bằng, Đắc Nông, Điện Biên, Hà Tĩnh, Hải Dương, Khánh Hoà, Kiên Giang, Lâm Đồng, Lào Cai, Nghệ An…

Trước bối cảnh kinh tế trong và ngoài nước gặp nhiều biến động bất lợi, khó khăn, các DN trong nước và DN có vốn đầu tư nước ngoài (FDI) đang gặp nhiều khó khăn trong hoạt động sản xuất, kinh doanh, ngành Thuế đã chủ động kiến nghị và xây dựng các cơ chế chính sách thuế phù hợp với điều kiện phát triển kinh tế hiện nay. Thực hiện chỉ đạo của Chính phủ, ngành Thuế cũng đã tiến hành miễn, giảm, giãn thuế cho các DN đủ điều kiện. Tuy nhiên, thực tế cho thấy, không ít DN để nợ thuế kéo dài dây dưa, mặc dù cơ quan thuế đã nhiều lần đôn đốc, nhắc nhở song các DN này vẫn cố tình chây ỳ, không tự giác thực hiện nghĩa vụ thuế.

Trước tình trạng này, nhằm đẩy mạnh công tác chống nợ đọng, thất thu thuế trong năm 2012, Tổng cục Thuế đã có công văn gửi cục thuế các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương về việc giao nhiệm vụ thanh tra, kiểm tra DN. Theo đó, toàn ngành Thuế tập trung thanh tra, kiểm tra khoảng trên 7.700 DN; Kiểm tra thuế tại trụ sở người nộp thuế (bao gồm cả kiểm tra sau hoàn thuế) khoảng 56.500 lượt. Tập trung thanh, kiểm tra vào các DN thuộc lĩnh vực tài chính ngân hàng, bất động sản, điện lực, dầu khí; các DN FDI, DN có giao dịch liên kết, DN có dấu hiệu chuyển giá, DN kinh doanh lỗ, DN có số nợ thuế lớn và các DN nhiều năm chưa được thanh tra, kiểm tra, DN hưởng ưu đãi, miễn giảm thuế. Bên cạnh đó, ngành Thuế cũng đặt ra yêu cầu với các cục thuế địa phương phải đảm bảo tổng số tiền thuế nợ tại thời điểm ngày 31/12/2012 không vượt quá 5% so với số thực hiện thu trong năm 2012, giảm 100% nợ chờ điều chỉnh và giảm 50% nợ chờ xử lý so với thời điểm ngày 31/12/2011. Ngành Thuế cũng đặt chỉ tiêu thanh tra, kiểm tra chống thất thu thuế đạt 12,5% số DN toàn Ngành đang quản lý.

Thực hiện chủ trương trên, hiện nhiều địa phương trong cả nước đã quyết liệt vào cuộc để chống thất thu và nợ đọng thuế, đặc biệt là Hà Nội – một trong những địa phương có tình trạng thất thu, nợ đọng thuế nhiều nhất. Trong quý I/2012, Cục Thuế TP.Hà Nội đã đẩy mạnh công tác thanh tra, kiểm tra thuế, đặc biệt, tập trung kiểm tra, rà soát tình hình kê khai, nộp thuế của các DN trọng điểm. Cục Thuế cũng chú trọng thực hiện kiểm tra rủi ro tại cơ quan thuế đối với các DN kinh doanh bất động sản; 100% DN kinh doanh ô tô, xe máy; các ngân hàng, các DN kinh doanh dược phẩm, nhà hàng ăn uống, khách sạn, dịch vụ đặc biệt... Đáng chú ý, cơ quan Thuế còn tập trung kiểm tra quyết toán thuế đối với các DN giải thể, xử lý nhanh các DN đã nghỉ bỏ kinh doanh; Tập trung lực lượng tăng cường thanh tra khu vực DN FDI, các DN có dấu hiệu chuyển giá, DN lỗ lớn, lỗ liên tục...

Qua công tác thanh, kiểm tra chống thất thu thuế được cơ quan Thuế Thành phố thực hiện tại 39 DN trên địa bàn vào đầu năm 2012, đã phát hiện hàng loạt vi phạm của nhiều DN. Qua đó, tiến hành truy thu, phạt nộp NSNN trên 52 tỷ đồng, trong đó, có hơn 35,1 tỷ đồng là từ truy thu thuế; xấp xỉ 16,6 tỷ đồng là từ các khoản tiền phạt, còn lại là các khoản tiền thuế truy hoàn và phạt trên truy hoàn. Ngoài ra, cũng từ việc thanh tra tại các DN này, cơ quan Thuế Thành phố còn giảm thuế GTGT được khấu trừ với số tiền lên đến trên 5,3 tỷ đồng; giảm số lỗ DN đã kê khai lên tới gần 185 tỷ đồng; giảm số thuế DN đã kê khai được miễn gần 7 tỷ đồng...

Kể từ khi mở cửa hội nhập kinh tế quốc tế, số lượng các DN FDI vào Việt Nam ngày càng nhiều. Những năm gần đây, hiện tượng các DN FDI kê khai lỗ khá phổ biến, chiếm khoảng 50% tổng số DN FDI đang hoạt động trên cả nước, trong đó nhiều DN kê khai lỗ liên tục trong 3 năm. Do chính sách ưu đãi thuế suất thuế thu nhập doanh nghiệp (TNDN) cho các nhà đầu tư trong và ngoài nước theo vùng và theo ngành đã tạo ra sự chênh lệch thuế suất thuế TNDN, tạo “tiền đề” để các DN xác định giá chuyển giao nhằm tối đa hoá lợi nhuận.

Trong giai đoạn đầu, nhằm thu hút vốn đầu tư, Nhà nước thường ban hành thuế suất thuế TNDN ưu đãi áp dụng với các DN FDI. Các loại thuế suất này ở Việt Nam lần lượt là 25%, 20%, 15% và 10% so với thuế suất phổ biến là 32%, 28% và 25%. Thuế suất ưu đãi thường thấp hơn thuế suất thuế TNDN (hoặc thuế tương tự) của cơ sở mẹ ở nước ngoài, nơi có thuế suất bình quân thường từ 35% đến 40%. Bởi vậy, việc chuyển giá bất lợi cho nước nhận đầu tư ít được thực hiện trong giai đoạn đầu thu hút vốn đầu tư. Hơn nữa, trong giai đoạn này chính sách bảo hộ sản xuất trong nước còn cao nên biểu thuế nhập khẩu được đánh khá cao. Vì vậy, khả năng chuyển giá để chuyển lợi nhuận từ các chi nhánh nơi nhận đầu tư (Việt Nam) về cơ sở mẹ nhằm tối đa hoá lợi nhuận là một việc làm không thể.

Tuy nhiên, trong giai đoạn này các hoạt động chuyển giá trong các DN FDI không vì tối đa hoá lợi nhuận vẫn diễn ra với các mục đích sau: Xác định giá chuyển giao nhằm thôn tính bên liên doanh; Chuyển giá nhằm tránh thuế chuyển lợi nhuận ra nước ngoài; Chuyển giá nhằm thu hồi vốn đầu tư về nước để tránh rủi ro trong một thị trường phát triển không ổn định.... Do vậy, để hạn chế mặt tiêu cực của chuyển giá không thể dùng các giải pháp chống thất thu trong quản lý thuế mà phải có những quy định riêng.

Đáng lo ngại là hành vi chuyển giá nhằm tối thiểu nghĩa vụ thuế TNDN không chỉ diễn ra tại các DN FDI, mà còn diễn ra giữa các bên liên kết trong nội địa Việt Nam do các tập đoàn kinh tế trong nước lợi dụng chính sách ưu đãi của Nhà nước, thành lập một số công ty con hoạt động trong những lĩnh vực và địa bàn khác nhau, trong đó có những lĩnh vực, địa bàn được ưu đãi thuế TNDN, từ đó tìm cách chuyển lợi nhuận trước thuế từ DN không được ưu đãi thuế sang DN liên kết được ưu đãi thuế hoặc chuyển lợi nhuận trước thuế từ DN có lãi sang DN bị lỗ thông qua giá chuyển giao sản phẩm và cung cấp dịch vụ giữa các bên để giảm thiểu nghĩa vụ thuế tổng hợp của cả tập đoàn...

Bài học về “chiến tranh chuyển giá” giữa các cường quốc đầu tư ra nước ngoài trong thời gian qua cho thấy chuyển giá thực sự là một vấn đề phức tạp có liên quan đến công tác thu thuế của một quốc gia. Tuy nhiên, để giải quyết những vấn đề của chuyển giá không phải từ biện pháp quản lý thuế với những chế tài nghiêm ngặt mà phảithông qua việc ban hành các phương pháp xác định giá chuyển giao tin cậy, được cộng đồng DN trên thế giới công nhận, cùng với các chế tài riêng biệt có hiệu quả được áp dụng hợp lý; hoặc phải thông qua các cuộc đàm phán dài hơi giữa cơ quan thuế với DN có mối quan hệ liên kết hoặc giữa các cơ quan quản lý thuế các nước có liên quan với nhau thông qua các Hiệp định thuế.

Giải pháp chống chuyển giá, chống nợ đọng và thất thu thuế

Về định hướng chống chuyển giá

Mới đây, Chính phủ đã giao Bộ Tài chính chủ trì xây dựng Chương trình hành động tổng thể cũng như hàng năm, bắt đầu từ năm 2012 nhằm kiểm soát hiệu quả hơn vấn đề chuyển giá trong hoạt động đầu tư, kinh doanh tại Việt Nam của các DN FDI. Để công tác đấu tranh chống chuyển giá ngày càng có hiệu quả, cần phải nghiêm túc xem xét, đánh giá đúng tính chất của vấn đề, từ đó đề ra các giải pháp thích hợp, với quan điểm tiếp cận và lộ trình phù hợp nhưng hạn chế đến mức thấp nhất khả năng gây ảnh hưởng tiêu cực đến việc thu hút đầu tư và môi trường đầu tư nói chung.

Một là, cần xác định rõ bản chất của chuyển giá để quản lý hợp lý tương ứng với nguồn lực bỏ ra và hiệu quả thu về, tránh chạy theo phong trào và có những động thái cực đoan làm ảnh hưởng đến môi trường đầu tư của các DN nói chung và DN FDI nói riêng. Không hô hào “chống chuyển giá” như là chống một hành vi vi phạm pháp luật mà phải tạo điều kiện cho DN hiểu rõ lợi ích của hoạt động xác định giá chuyển giao khi đầu tư ra nước ngoài và tránh những vi phạm xác định giá chuyển giao theo khung pháp luật quy định khi kinh doanh trong nước.

Hai là, củng cố lại cơ sở pháp lý về quản lý hoạt động chuyển giá, ban hành và hướng dẫn đầy đủ các phương pháp xác định giá chuyển giao phù hợp với trình độ phát triển kinh doanh trong nước và phù hợp với thông lệ quốc tế. Phải nâng cao tính pháp lý của hoạt động chuyển giá để có thể quy định các chế tài và hình thức xử phạt cũng như quy định các “ngưỡng an toàn” cho hoạt động chuyển giá, tạo thuận lợi cho DN khi áp dụng, nhưng cũng xử lý nghiêm khắc khi có vi phạm.

Ba là, tiến hành thanh tra chuyển giá đúng quy định đối với những giao dịch ngoài ngưỡng an toàn và có dấu hiệu vi phạm các phương pháp xác định giá chuyển giao theo quy định của pháp luật Việt Nam (không đơn thuần dựa trên các dấu hiệu về hiệu quả kinh doanh) và xử lý kịp thời những vi phạm này một cách nghiêm túc.

Bốn là, để hạn chế về lâu dài những cuộc thanh tra chuyển giá tốn nhiều thời gian và hao tổn nguồn lực của xã hội, cần triển khai ngay cơ chế thoả thuận giá trước cho những giao dịch liên kết trong toàn quốc. Trong khi Chính phủ chưa giao quyền đàm phán cho cơ quan thuế thông qua việc điều chỉnh Luật Quản lý thuế. Cơ quan thuế cần tiến hành thoả thuận giá trước theo hình thức “APA đơn phương” (APA - Thỏa thuận xác định giá trước) với những DN có nhu cầu theo tinh thần của Luật Thuế TNDN, nhằm hạn chế tác hại của hoạt động chuyển giá. Sau khi được trao quyền đàm phán APA với các nước, cần xúc tiến đàm phán với những quốc gia hiện có nhiều DN đang kinh doanh ở Việt Nam, đặc biệt là với những quốc gia mà ngành Thuế có sự hợp tác tốt, để có thể vừa đàm phán vừa học hỏi kinh nghiệm.

Năm là, để thực hiện các giải pháp có hiệu quả cơ quan thuế cần hình thành một bộ máy chuyên trách về giá chuyển giao với mục đích giúp Chính phủ triển khai tốt nhiệm vụ này với hai yêu cầu: Thứ nhất, các DN liên kết kinh doanh ở Việt Nam phải biết rõ và thực hiện đúng, đầy đủ các phương pháp xác định giá chuyển giao theo quy định của pháp luật, kể cả việc đề nghị áp dụng APA các hình thức; Thứ hai là mọi biểu hiện nghi vấn về việc xác định giá chuyển giao chưa đúng phương pháp phải được đấu tranh kịp thời và yêu cầu xác định lại một cách hợp lý theo một trong các phương pháp đã được hướng dẫn. Bên cạnh đó, cơ quan thuế cũng cần xây dựng và triển khai một hệ thống dữ liệu cần thiết phục vụ cho việc xác định giá chuyển giao nhằm quản lý tốt các hiện tượng chuyển giá bất hợp lý, làm cơ sở để thanh tra chuyển giá và làm cơ sở để thảo luận các hình thức APA.

Về chống thất thu và nợ đọng thuế

Hiện nay, việc chống thất thu, nợ đọng thuế gặp không ít khó khăn. Biện pháp đầu tiên thực hiện cưỡng chế theo quy trình là trích tiền từ tài khoản của DN. Tuy nhiên, thực tế thời gian qua cho thấy, phần lớn tài khoản ngân hàng của DN khi thực hiện cưỡng chế đều bằng 0 hoặc còn số dư rất ít. Nếu chuyển sang biện pháp kê khai tịch biên tài sản thì hầu hết tài sản đều thế chấp vay ngân hàng nên rất khó thực thi. Đối với biện pháp xử phạt nộp chậm là tính lãi với mức 0,05%/ngày, tương đương 18%/năm cũng tỏ ra thiếu hiệu quả. Bởi không ít DN cho rằng, với mức nộp phạt còn “dễ thở” hơn lãi suất đi vay ngân hàng nên giữ vốn lại để kinh doanh và nộp phạt thay vì nộp thuế ngay. Đó là chưa kể đối với những khoản nợ thuế phát sinh từ cách đây cả chục năm thì việc xác minh thông tin và hoàn thiện hồ sơ hết sức khó khăn do người nộp đã trốn, đã chết, mất tích... Trước bối cảnh đó, để nâng cao hiệu quả quản lý thuế, hạn chế tình trạng thất thu NSNN thì công tác chống thất thu, nợ đọng thuế luôn là nhiệm vụ bền bỉ, lâu dài được ngành Thuế quan tâm thực hiện. Nhằm thực hiện công tác này một cách hiệu quả, tới đây cần triển khai nhiều giải pháp như:

Một là, cần có một chế tài xử phạt đủ mạnh để hạn chế tình trạng trốn thuế, gian lận thuế. Hiện nay, chế tài xử phạt vi phạm về thuế chưa đủ sức răn đe là một trong những nguyên nhân khiến cho việc vi phạm về thuế ngày càng có xu hướng gia tăng, với nhiều thủ đoạn tinh vi hơn. Cần có sự vào cuộc mạnh mẽ hơn nữa từ Ủy ban nhân dân các huyện, thành phố, cục thuế và các ngành liên quan nhằm thực hiện cưỡng chế hoặc lập thủ tục truy tố nếu không chấp hành.

Hai là, đẩy mạnh công tác thanh tra, kiểm tra. Trong năm 2012, Tổng cục Thuế đã chỉ đạo các đơn vị phải thực hiện kiểm tra hồ sơ hoàn thuế trọng tâm ở những DN báo cáo kết quả kinh doanh lỗ; số lỗ vượt quá vốn điều lệ đăng ký nhưng vẫn đầu tư mở rộng kinh doanh trong nhiều lĩnh vực. Ngoài ra, tập trung kiểm tra số đơn vị có hoạt động kinh doanh xuất khẩu thương mại thuần túy với số thuế hoàn lớn. Bên cạnh đó, cần cương quyết xử lý đối với các DN chây ỳ, dây dưa, nợ đọng thuế. Quan trọng hơn, thông qua công tác thanh tra, ngành Thuế sẽ tổng hợp khó khăn, vướng mắc của DN để kịp thời kiến nghị sửa đổi, bổ sung cơ chế chính sách về thuế trong lĩnh vực chuyển giá, chống thất thu thuế...

Ba là, thực tế chứng minh muốn chống thất thu thuế đạt hiệu quả cao cần có sự phối hợp, tham gia tích cực của các ngành, các cấp. Do vậy, cần thực hiện tốt các quy chế phối hợp giữa các ngành: Công an, Hải quan, Kế hoạch - Đầu tư, Kho bạc, Thuế và các ngành có liên quan; tổ chức giám sát chặt chẽ. 

Viết bình luận

Hãy sử dụng tiếng Việt có dấu khi viết bài. Bình luận của bạn sẽ được biên tập trước khi đăng

 (*) 

  (*)

   

Tắt bộ gõ Gõ tự động Telex VNI VIQR 

Số ký tự còn lại:

Protected by FormShield
Refresh

Lên đầu trang