• VN-Index
  • 601.75
  • 1.49
  • 0.25%
  • HNX-Index
  • 90.36
  • 0.66
  • 0.73%
  • DowJones
  • 16302.77
  • -28.28
  • -0.17%
  • Vàng (mua)
  • Vàng (bán)
  • 35.98
  • 36.04
  • USD (mua)
  • USD (bán)
  • 21080
  • 21120
  • Dầu thô
  • 99.46
  • 0.56
  • 0%

Chính sách thuế năm 2013: Thực hiện mục tiêu dài hạn, hỗ trợ kinh tế ngắn hạn

Thứ năm 28/02/2013 09:36

Nguyễn Văn Phụng - Phó vụ trưởng Vụ Chính sách thuế - Bộ Tài chính

(Tài chính) Chính sách thuế năm 2013 được triển khai trong bối cảnh Việt Nam tiếp tục thực hiện các giải pháp tháo gỡ khó khăn cho sản xuất kinh doanh, hỗ trợ thị trường. Bên cạnh đó, ngành Tài chính phải đảm bảo hoàn thành nhiệm vụ thu ngân sách nhà nước cũng như sự hài hòa của chính sách trong trung và dài hạn...

Chính sách thuế năm 2013: Thực hiện mục tiêu dài hạn, hỗ trợ kinh tế ngắn hạn

Ảnh minh họa. Nguồn:Internet

Sửa đổi các sắc thuế lớn trong trung và dài hạn

Chiến lược cải cách hệ thống thuế giai đoạn 2011 – 2020 của Việt Nam đã được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt có mục tiêu tổng quát là : “Xây dựng hệ thống chính sách thuế đồng bộ, thống nhất, công bằng, hiệu quả, phù hợp với thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa; mức động viên hợp lý nhằm tạo điều kiện thúc đẩy sản xuất trong nước. Đây là một trong những công cụ quản lý kinh tế vĩ mô có hiệu quả, hiệu lực của Đảng và Nhà nước. Xây dựng ngành Thuế Việt Nam hiện đại, hiệu lực, hiệu quả; công tác quản lý thuế, phí và lệ phí thống nhất, minh bạch, đơn giản, dễ hiểu, dễ thực hiện dựa trên ba nền tảng cơ bản: thể chế chính sách thuế minh bạch, quy trình thủ tục hành chính thuế đơn giản, khoa học phù hợp với thông lệ quốc tế; nguồn nhân lực có chất lượng, liêm chính; ứng dụng công nghệ thông tin hiện đại, có tính liên kết, tích hợp, tự động hóa cao.”

Trên cơ sở Chiến lược cải cách hệ thống thuế giai đoạn 2011 – 2020; thực hiện các mục tiêu dài hạn và hỗ trợ nền kinh tế ngắn hạn đã được Quốc hội, Chính phủ đề ra, chính sách thuế năm 2013 có một số trọng tâm lớn sau:

1. Luật Thuế thu nhập cá nhân (TNCN): Luật có hiệu lực từ ngày 01/07/2013, hiện tại, các văn bản hướng dẫn thi hành Luật đang được khẩn trương soạn thảo, lấy ý kiến nhân dân và sẽ được ban hành trong quý I/2013. Những nội dung chủ yếu là: (i) Điều chỉnh giảm mức động viên thuế đối với cá nhân có thu nhập từ tiền lương, tiền công thông qua việc nâng mức giảm trừ gia cảnh đối với cá nhân từ 4 triệu đồng/tháng (48 triệu đồng/năm) lên mức 9 triệu đồng/tháng (108 triệu đồng/năm). Mức giảm trừ đối với mỗi người phụ thuộc cũng được điều chỉnh lên 3,6 triệu đồng/tháng thay cho mức 1,6 triệu đồng/tháng. (ii) Sửa đổi quy định về thu nhập chịu thuế, thu nhập tính thuế như: các loại phụ cấp được loại trừ, không tính vào thu nhập chịu thuế; mở rộng diện giảm trừ khi tính thuế đối với khoản đóng góp vào quỹ hưu trí tự nguyện, đồng thời cũng miễn thuế đối với thu nhập nhận được từ quỹ này trong tương lai; (iii) Sửa các quy định về quản lý thuế, khai thuế đối với cá nhân theo hướng tăng trách nhiệm của các tổ chức chi trả thu nhập cho cá nhân, đồng thời đơn giản hoá việc khai quyết toán thuế cá nhân đối với một số loại thu nhập.

2. Luật Quản lý thuế: Luật có hiệu lực từ 01/07/2013, đánh dấu bước thay đổi quan trọng về quản lý thuế. Các văn bản hướng dẫn thực hiện Luật đang được soạn thảo, sớm ban hành để thực hiện 19 nội dung cụ thể của Luật, được xếp vào 3 nhóm vấn đề lớn: (i) Đẩy mạnh cải cách hành chính (như giảm tần suất khai thuế từ 12 lần/năm xuống còn 4 lần/năm đối với người nộp thuế có quy mô nhỏ và vừa; rút ngắn thời gian giải quyết thủ tục gia hạn thuế, hoàn thuế; đơn giản hồ sơ, thủ tục trong hoàn thuế, xóa nợ thuế; bổ sung quy định về việc kiểm tra sau hoàn thuế); (ii) Đẩy mạnh cải cách, hiện đại hoá quản lý thuế, làm cơ sở áp dụng các biện pháp quản lý tiên tiến như: nguyên tắc quản lý rủi ro; cơ chế thoả thuận giá trước (APA); cơ chế phân loại mã số, xác định trị giá và xuất xứ hàng hóa trước khi xuất/nhập khẩu; khai thác, sử dụng thông tin từ nguồn nước ngoài theo các Hiệp định thuế; nghĩa vụ của người nộp thuế trong ứng dụng công nghệ thông tin để phát triển thuế điện tử; (iii) Các quy định bổ sung nhằm tăng cường và nâng cao hiệu lực, hiệu quả của quản lý thuế như: Thời hạn nộp thuế đối với hàng xuất nhập khẩu (XNK); thứ tự thanh toán tiền thuế, tiền phạt; gia hạn thời gian nộp thuế với trường hợp cơ sở phải di dời và nợ thuế do ngân sách nhà nước (NSNN) chậm thanh toán; quy định việc nộp dần tiền thuế (phân kỳ hạn nộp) đối với người nộp thuế do khó khăn; quy định về xoá nợ thuế với một số khoản khó có khả năng thu hồi sau khi đã áp dụng đầy đủ các biện pháp cưỡng chế thuế.

3. Sửa đổi Luật Thuế thu nhập doanh nghiệp (TNDN): Theo chương trình, Luật này sẽ được sửa đổi, bổ sung trong năm 2013 để thực hiện từ năm 2014. Những nội dung chủ yếu nhằm tạo lập môi trường kinh doanh thuận lợi, tiếp tục khuyến khích đầu tư, giảm mức động viên thuế cùng với nâng cao hiệu quả phân bổ nguồn lực xã hội như: (i) Điều chỉnh mức động viên về thuế suất phổ thông từ 25% giảm xuống còn khoảng 23%, DN có quy mô nhỏ và vừa được giảm xuống còn 20%); (ii) Quy định bổ sung một số loại thu nhập được miễn thuế TNDN; (iii) Tiếp tục đơn giản hóa, minh bạch hóa các quy định về xác định doanh thu, chi phí được trừ khi xác định thu nhập chịu thuế, các loại thu nhập được miễn thuế, hạch toán phân định các loại thu nhập, xử lý chuyển lỗ phát sinh… theo nguyên tắc thị trường, tạo thuận lợi tối đa cho DN, trong đó có rà soát lại các chi phí về quảng cáo, khuyến mại; bảo đảm sự ổn định và an ninh tài chính cho DN…; (iv) Quy định về ưu đãi thuế để thu hút đầu tư vào các lĩnh vực, địa bàn cần khuyến khích như ưu đãi thuế đối với đầu tư mở rộng, ứng dụng công nghệ cao, công nghệ sạch, thân thiện với môi trường, các lĩnh vực xã hội hoá… Dự án Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật thuế TNDN đã được trình xin ý kiến các thành viên Chính phủ xem xét tại Phiên họp thường kỳ tháng 01/2013.

4. Sửa đổi, bổ sung Luật Thuế giá trị gia tăng (GTGT): Dự kiến đưa ra xin ý kiến Quốc hội tại kỳ họp tháng 5/2013 và trình thông qua tại kỳ họp tháng 11/2013. Luật thuế GTGT sẽ sửa đổi, bổ sung các nội dung lớn gồm: (i) Quy định về ngưỡng doanh thu áp dụng thuế GTGT để áp dụng thống nhất phương pháp khấu trừ thuế (các đối tượng có doanh thu dưới ngưỡng sẽ áp dụng cách tính thuế đơn giản theo tỷ lệ thấp trên doanh thu); (ii) Rà soát 25 nhóm hàng hóa, dịch vụ không chịu thuế để có những quy định cụ thể hơn về các dịch vụ tài chính, cho vay vốn, in tiền, sản phẩm in là tiền mặt, các dịch vụ công cộng…; (iii) Các quy định mang tính kỹ thuật về giá tính thuế, phương pháp tính thuế, khấu trừ thuế, hoàn thuế; (iv) Mức thuế suất thuế GTGT cần được rà soát thận trọng hơn trong điều kiện nông nghiệp, nông thôn chưa có bước phát triển và đang chịu nhiều tổn thương của quá trình phát triển và hội nhập kinh tế.

5. Các sắc thuế khác: Tiếp tục cắt giảm thuế XNK theo các hiệp định thương mại tự do; Rà soát lại các mức thuế suất thuế tài nguyên đối với tài nguyên khoáng sản; Rà soát quy định để sửa đổi, bổ sung một số loại phí, lệ phí, trong đó có lệ phí trước bạ đối với một số loại tài sản nhằm giải quyết hợp lý mối quan hệ giữa người tiêu dùng, người chuyển nhượng tài sản, khả năng cung cấp dịch vụ công của Nhà nước, các địa phương và sự phát triển của thị trường, của các ngành sản xuất kinh doanh có liên quan đến tài sản thuộc loại phải đăng ký…

Giải pháp thuế ngắn hạn trong năm 2013

Ngày 7/1/2013, Chính phủ ban hành Nghị quyết số 02/NQ-CP về một số giải pháp tháo gỡ khó khăn cho sản xuất kinh doanh, hỗ trợ thị trường, giải quyết nợ xấu. Trong đó, các giải pháp về thuế đang nhận được sự quan tâm của cộng đồng DN và các cấp, các ngành bởi đây là sự chia sẻ cần thiết, đầy khó khăn giữa Nhà nước và DN trước sức ép ngày càng tăng của NSNN trong điều hành kinh tế vĩ mô.

1. Các giải pháp chung cho DN: Với mục tiêu trợ giúp DN tiết giảm tối đa các yếu tố đầu vào của sản xuất kinh doanh, cùng với đề xuất giảm lãi suất tín dụng, các biện pháp về thuế nhập khẩu, về tiền thuê đất, thuê mặt đất, mặt nước cho sản xuất kinh doanh, các loại phí, lệ phí sẽ được áp dụng năm 2013, bao gồm:

Một là, trong khuôn khổ các cam kết quốc tế và trong phạm vi thẩm quyền, Bộ trưởng Bộ Tài chính ban hành các thông tư quy định cụ thể về thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu năm 2013. Theo đó, cùng với việc cắt giảm hàng nghìn dòng thuế theo lộ trình, các mặt hàng nhập khẩu là nguyên liệu, linh kiện, phụ tùng mà trong nước không có khả năng sản xuất được áp dụng mức thuế suất giảm nhanh hơn. Bên cạnh đó, những mặt hàng mà trong nước đã sản xuất được và có sản lượng sản xuất đáp ứng nhu cầu nội địa thì sẽ thực hiện áp mức thuế tối đa đến mức trần cam kết để khuyến khích sản xuất trong nước.

Hai là, không ban hành quy định về thu phí hạn chế phương tiện giao thông cơ giới đường bộ theo đầu phương tiện (kể cả phương tiện của cá nhân). Đồng thời, đang khẩn trương soạn thảo để trình sửa đổi Nghị định về lệ phí trước bạ theo hướng: Ô tô đăng ký lần đầu thì mức thu chung là 10%, các địa phương được điều chỉnh không quá 50% mức quy định chung (thay cho mức hiện hành tối đa 20%). Đối với xe đăng ký lần thứ 2 trở đi thì mức thu không quá 2% và áp dụng thống nhất trong cả nước. Các phương tiện vận tải dùng cho sản xuất kinh doanh (ví dụ như xe vận tải chở hàng) sẽ được áp mức thu thấp hơn nhiều lần so với mức áp dụng cho ô tô du lịch cá nhân. Việc điều chỉnh giảm lệ phí trước bạ không chỉ nhằm giảm chi phí đầu vào của DN mà còn có ý nghĩa thúc đẩy tiêu thụ hàng hoá là đầu ra của ngành công nghiệp ô tô, mà còn tạo thuận lợi cho người dân tự nguyện đăng ký, chuyển tên sở hữu sau các lần giao dịch chuyển nhượng, và cũng tiện lợi cho công tác quản lý…

Ba là, giảm 50% tiền thuê đất năm 2013, năm 2014 đối với các tổ chức kinh tế, hộ gia đình, cá nhân được Nhà nước cho thuê đất mà số tiền thuê đất phải nộp theo quy định tại Nghị định số 121/2010/NĐ-CP ngày 30/12/2010 của Chính phủ tăng quá 2 lần so với mức nộp năm 2010 (theo chính sách thu tiền thuê đất trước ngày Nghị định số 121/2010/NĐ-CP có hiệu lực thi hành). Điểm mới và thuận lợi hơn chính sách năm 2012 là trường hợp tiền thuê đất sau khi được giảm mà vẫn còn gấp hơn 2 lần so với tiền thuê đất phải nộp của năm 2010 thì được giảm tiếp tiền thuê đất đến mức bằng 2 lần tiền thuê đất phải nộp của năm 2010. Đồng thời, thực hiện sửa đổi, đơn giản hóa quy định về thủ tục, hồ sơ kê khai tính giảm tiền thuê đất. Các thủ tục mới đơn giản hơn cũng sẽ được áp dụng cho các trường hợp đủ điều kiện giảm tiền thuê đất trong năm 2012 nhưng chưa được xử lý do còn vướng mắc về hồ sơ.

Bốn là, cùng với các giải pháp chính sách, các biện pháp quản lý cũng như việc cung cấp dịch vụ công phục vụ DN sẽ được cải tiến, áp dụng quyết liệt và thống nhất như: (i) Rút ngắn thời gian thông quan, tăng cường công tác khai thuế điện tử qua mạng, đẩy mạnh triển khai nộp thuế qua hệ thống ngân hàng, đẩy mạnh tự động hóa quy trình tiếp nhận giải quyết hồ sơ, thủ tục hành chính thuế và hải quan. Trên cơ sở đó, phấn đấu giảm từ 10% đến 15% chi phí tuân thủ khai hải quan, khai thuế cho cá nhân, tổ chức và cộng đồng DN; (ii) Đẩy mạnh việc theo dõi, kiểm tra, kiểm soát việc kê khai nộp thuế, hoàn thuế; tăng cường rà soát, đối chiếu chéo để phát hiện kịp thời những đối tượng gian lận về chứng từ, hóa đơn, không đăng ký thuế… để bảo vệ và giảm thiểu rủi ro cho các DN làm ăn chính đáng…

2. Về thuế bảo vệ môi trường: Theo Nghị định số 69/2012/NĐ-CP ngày 14/9/2012 về sửa đổi, bổ sung khoản 3 Điều 2 Nghị định số 67/2011/NĐ-CP ngày 08/8/2011 của Chính phủ quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Thuế bảo vệ môi trường. BVMT không áp thuế đối với các loại túi, bao bì nhựa mỏng dùng đóng gói sẵn hàng hóa và túi ni lông đáp ứng tiêu chí thân thiện với môi trường kể từ ngày được cơ quan có thẩm quyền cấp giấy chứng nhận túi ni lông thân thiện với môi trường theo quy định của Bộ Tài nguyên và Môi trường. DN nhập khẩu hoặc mua các mặt hàng này của các nhà sản xuất trong nước chỉ cần có nội dung cam kết trong hợp đồng kinh tế (hoặc tờ khai hải quan đối với hàng nhập khẩu) thì được áp dụng mức giá không có thuế BVMT và đây cũng là căn cứ để DN sản xuất túi ni lông, bao bì không phải tính, không nộp thuế BVMT.

Thực hiện hoàn thuế BVMT mà DN đã nộp năm 2012 đối với túi ni lông dùng làm bao bì đóng gói sẵn sản phẩm theo quy định tại Nghị định số 69/2012/ NĐ-CP ngày 14/9/2012 của Chính phủ.

3. Đối với các DN nhỏ và vừa, DN sử dụng nhiều lao động:

Các giải pháp thuế năm 2013 thuộc thẩm quyền của Chính phủ được áp dụng đối với DN quy mô nhỏ và vừa, DN sử dụng nhiều lao động trong một số lĩnh vực là:

- Gia hạn 06 tháng thời hạn nộp thuế TNDN đối với số thuế TNDN phải nộp quý I và 03 tháng thời hạn nộp thuế TNDN đối với số thuế phải nộp quý II và quý III/2013. Theo đó, số thuế TNDN tạm tính, tạm khai nộp của quý I và quý II/2013 được dời đến ngày 30/10/2013; số thuế khai tạm nộp của quý III/2013 sẽ được chậm đến tháng 01/2014. Tuy nhiên, sẽ không thực hiện gia hạn số thuế TNDN phát sinh từ phần thu nhập từ các hoạt động tài chính, ngân hàng, bảo hiểm, chứng khoán, xổ số, trò chơi có thưởng, thu nhập từ kinh doanh hàng hóa, dịch vụ thuộc diện chịu thuế tiêu thụ đặc biệt.

- Gia hạn 06 tháng thời hạn nộp thuế GTGT đối với số thuế GTGT phải nộp của tháng 1, tháng 2, tháng 3/2013. Cụ thể là: Số thuế GTGT của tháng 1/2013 được gia hạn nộp đến ngày 20/8/2013; số thuế của tháng 2/2013 được gia hạn đến 20/9 và cho đến 20/10/2013 DN mới phải nộp số thuế GTGT của tháng 3/2013.

4. Đối với DN có hoạt động liên quan đến thị trường bất động sản:

- Không phân biệt quy mô, loại hình DN, số lượng lao động sử dụng, chính sách gia hạn thuế sẽ được áp dụng đối với các DN tham gia vào một phân khúc của thị trường bất động sản là nhà ở. Theo đó, hoạt động bán, cho thuê hoặc cho thuê mua nhà ở (bao gồm cả DN hoạt động đầu tư xây dựng nhà và các DN có hoạt động kinh doanh mua/bán nhà ở) được áp dụng việc giãn thuế TNDN, thuế GTGT trong thời gian 6 tháng như các biện pháp dành cho DN quy mô nhỏ và vừa đã nêu ở phần trên.

- Đối với các DN sản xuất vật liệu xây dựng - là những DN gặp nhiều khó khăn do hệ luỵ của thị trường bất động sản sụt giảm cũng như sự cắt giảm chi tiêu và đầu tư của khu vực dân cư, chính sách áp dụng với các đối tượng này là thực hiện gia hạn thuế GTGT đối với các DN thực hiện nộp thuế GTGT theo phương pháp khấu trừ có sản xuất các mặt hàng vật liệu xây dựng chủ yếu như: Sắt, thép, xi măng, gạch, ngói. Trường hợp DN sản xuất kinh doanh nhiều mặt hàng thì chỉ thực hiện gia hạn đối với số thuế GTGT phải nộp đối với sản phẩm là nhà ở, sắt, thép, xi măng, gạch, ngói.

- Nhằm tạo điều kiện cho các nhà đầu tư thu xếp được nguồn vốn cho việc triển khai các dự án bất động sản, nay cho phép các chủ đầu tư dự án đã được Nhà nước giao đất nhưng chưa hoàn thành nghĩa vụ nộp tiền sử dụng đất được gia hạn nộp. Theo đó, thay vì phải nộp tiền theo thông báo, các chủ đầu tư có khó khăn về tài chính được nộp tiền sử dụng đất theo tiến độ thanh toán tiền bán hàng trong thời gian tối đa 24 tháng kể từ ngày có thông báo nộp tiền sử dụng đất của cơ quan thuế. Đây là nguồn thu được để lại toàn bộ cho địa phương theo quy định của Luật NSNN, vì vậy, việc xem xét, quyết định thời gian được gia hạn nộp tiền sử dụng đất cụ thể cho từng dự án sẽ thuộc thẩm quyền của Uỷ ban nhân dân cấp tỉnh sau khi đã báo cáo thường trực Hội đồng nhân dân cùng cấp trên cơ sở khả năng cân đối ngân sách địa phương.

5. Các giải pháp đề xuất trình Quốc hội năm 2013:

Theo chương trình xây dựng pháp luật, tại kỳ họp tháng 5/2013, Quốc hội sẽ xem xét thông qua dự án Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật thuế TNDN để áp dụng từ năm 2014 với các nội dung chủ yếu nhằm tạo lập môi trường kinh doanh thuận lợi, tiếp tục khuyến khích đầu tư, giảm mức động viên thuế cùng với nâng cao hiệu quả phân bổ nguồn lực xã hội như: (i) Giảm mức động viên về thuế suất chung từ 25% xuống khoảng 23%, riêng DN nhỏ và vừa, mức thuế suất sẽ được giảm xuống thấp hơn, dự kiến 20%; (ii) Áp dụng biện pháp ưu đãi thuế đối với đầu tư mở rộng vào các lĩnh vực hoặc địa bàn cần khuyến khích; (iii) Tiếp tục đơn giản hoá, minh bạch hóa các quy định về xác định doanh thu, chi phí được trừ khi xác định thu nhập chịu thuế, các loại thu nhập được miễn thuế, hạch toán phân định các loại thu nhập, xử lý chuyển lỗ phát sinh…

Trong phạm vi thẩm quyền được phân công, Bộ trưởng Bộ Tài chính thừa ủy quyền Thủ tướng Chính phủ báo cáo Quốc hội xem xét, quyết định các giải pháp chính sách thuế áp dụng trong năm 2013, cụ thể như sau:

Thứ nhất, trình Quốc hội cho phép các DN có quy mô nhỏ và vừa được áp dụng thuế suất thuế TNDN 20% từ ngày 01/7/2013 (sớm hơn 06 tháng so với lộ trình dự kiến thực hiện Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật thuế TNDN. DN có quy mô vừa và nhỏ được xác định theo tiêu chí mới, dựa trên số liệu thực tế hai năm trước liền kề (đối với DN đang hoạt động) và tự kê khai (đối với DN mới ra kinh doanh chưa đạt 2 năm).

Thứ hai, áp dụng thuế suất thuế TNDN ưu đãi 10% từ ngày 01/7/2013 đối với thu nhập từ đầu tư - kinh doanh (cho thuê, cho thuê mua) nhà ở xã hội. Nhà ở xã hội được xác định theo quy định của pháp luật về nhà ở.

Thứ ba, giảm 30% số thuế GTGT đầu ra từ ngày 01/7/2013 đến hết ngày 30/6/2014 đối với hoạt động đầu tư - kinh doanh (bán, cho thuê, cho thuê mua) nhà ở là căn hộ có diện tích sàn dưới 70 m2 và có giá bán dưới 15 triệu đồng/m2. Với mức giảm này, dự kiến và cơ cấu giá thành xây dựng hiện nay, DN sẽ không phải nộp thuế GTGT trong thời gian 01 năm đối với sản phẩm nhà ở có giá trị và diện tích thấp.

Thứ tư, bổ sung ưu đãi thuế đối với đầu tư mở rộng thuộc lĩnh vực, ngành nghề, địa bàn ưu đãi theo quy định của Luật thuế TNDN để thực hiện từ ngày 01/7/2013 (sớm hơn 06 tháng so với lộ trình dự kiến thực hiện Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật thuế TNDN). Thời gian miễn, giảm thuế áp dụng đối với đầu tư mở rộng bằng với thời gian miễn thuế, giảm thuế áp dụng đối với DN thành lập mới cùng địa bàn, lĩnh vực ưu đãi thuế TNDN.

Hy vọng các giải pháp, chính sách thuế do Bộ Tài chính đề xuất sẽ sớm được Chính phủ và Quốc hội chấp thuận và được triển khai đồng bộ sẽ có tác động góp phần tháo gỡ cho sản xuất kinh doanh, phục hồi thị trường, sớm đưa nền kinh tế lấy lại đà tăng trưởng trong năm 2013.
________________

Tài liệu tham khảo:

1. Quyết định số 732/2010/QĐ-TTg ngày 17/5/2010 của Thủ tướng Chính phủ về việc phê duyệt Chiến lược cải cách hệ thống thuế giai đoạn 2011 – 2020;

2. Luật số 21/2012/QH13 của Quốc hội ngày 20/11/2012 về việc sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Quản lý thuế;

3. Luật số 26/2012/QH13 của Quốc hội ngày 22/11/2012, sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Thuế thu nhập cá nhân;

4. Tờ trình số 04/TTr-BTC ngày 11/01/2013 của Bộ Tài chính về dự án Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Thuế TNDN;

5. Nghị quyết số 02/NQ-CP ngày 07/01/2013 của Chính phủ về một số giải pháp tháo gỡ khó khăn cho sản xuất kinh doanh, hỗ trợ thị trường, giải quyết nợ xấu.

Bài đăng trên Tạp chí Tài chính số 2 - 2013

Viết bình luận

Hãy sử dụng tiếng Việt có dấu khi viết bài. Bình luận của bạn sẽ được biên tập trước khi đăng

 (*) 

  (*)

   

Tắt bộ gõ Gõ tự động Telex VNI VIQR 

Số ký tự còn lại:

Protected by FormShield
Refresh

Lên đầu trang