Kinh tế - tài chính vĩ mô
Kinh tế Việt Nam: Tầm nhìn và hành động (17-01-2012 15:55:05)
TCTC Online - Năm 2011 khép lại một năm đầy biến động với nền kinh tế thế giới. Cuộc khủng hoảng suy thoái kinh tế và khủng hoảng nợ công diễn ra trên diễn rộng đã cuốn nhiều quốc gia vào vòng xoáy suy giảm, Việt Nam cũng không nằm ngoài vòng xoáy này...

Tuy nhiên, bằng những giải pháp và sự quyết liệt trong chỉ đạo điều hành, Việt Nam đã vượt qua khó khăn thách thức, kinh tế vĩ mô cơ bản đã ổn định, duy trì được tốc độ khá cao tăng trưởng, an sinh xã hội được đảm bảo

Điểm lại những thách thức và thuận lợi

Bước sang năm 2011, kinh tế thế giới tiếp tục có những diễn biến phức tạp: những biến động về chính trị, xã hội ở một số nước Trung Đông và Châu Phi tác động làm tăng mạnh giá dầu mỏ, giá vàng, lương thực và một số loại nguyên vật liệu cơ bản; thị trường tài chính toàn cầu, đặc biệt là khu vực đồng Euro vẫn bất ổn; khủng hoảng nợ công ở nhiều nước có xu hướng lan rộng; lạm phát bắt đầu tăng cao ở một số nước trong khu vực vốn là thị trường nhập khẩu quan trọng của nước ta.

Ở trong nước, kinh tế - xã hội của nước ta tiếp tục phải đối mặt với những khó khăn, thách thức, thậm chí lớn hơn so với dự báo cuối năm trước về lạm phát, ổn định kinh tế vĩ mô và an sinh xã hội. Tăng trưởng GDP có xu hướng chậm lại, thấp hơn so với cùng kỳ năm 2010; giá cả, lạm phát, mặt bằng lãi suất tăng cao so với chỉ số lạm phát và tỉ suất lợi nhuận của DN; tình trạng đô la hóa và sử dụng vàng để kinh doanh, làm công cụ thanh toán trở nên phổ biến và nghiêm trọng hơn; tỉ giá biến động mạnh, giá vàng tăng cao; dự trữ ngoại hối giảm; việc cung cấp điện còn nhiều căng thẳng. Ngoài ra, việc rét đậm, rét hại kéo dài ở miền Bắc và Bắc Trung Bộ cũng đã gây tổn thất và tác động bất lợi không nhỏ đến sản xuất nông nghiệp và đời sống nông dân.

Bên cạnh những thách thức đặt ra, Việt Nam cũng hội tụ được một số thuận lợi căn bản: Nền kinh tế tiếp tục giữ được mức tăng trưởng khá trong nhiều năm liền; an sinh xã hội được bảo đảm; quốc phòng, an ninh, chính trị, trật tự an toàn xã hội được giữ vững; các cân đối lớn của nền kinh tế cơ bản được bảo đảm. Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ XI đã thành công tốt đẹp, tạo sức mạnh và niềm tin trong toàn Đảng, toàn dân, toàn quân ta trong giai đoạn phát triển mới của đất nước. Cùng với đó là sự điều hành kịp thời của Chính phủ thông qua nhiều giải pháp mạnh mẽ.

Xác định rõ được khó khăn thách thức đặt ra, ngay từ khi bước vào thực hiện kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội năm 2011, Chính phủ đã quyết liệt chỉ đạo nhiều giải pháp đồng bộ trên tất cả các “mặt trận” nhằm vượt qua thách thức. Đồng thời với việc tập trung chỉ đạo triển khai thực hiện tốt các nghị quyết, Chính phủ đã ban hành Nghị quyết số 11/NQ-CP ngày 24/02/2011 "về những giải pháp chủ yếu tập trung kiềm chế lạm phát, ổn định kinh tế vĩ mô, bảo đảm an sinh xã hội"; đẩy mạnh triển khai thực hiện những giải pháp tổng thể: thực hiện chính sách tài khóa thắt chặt, giảm đầu tư công hướng tới giảm bội chi NSNN và nợ công ở mức phù hợp; kiểm soát chặt chẽ đầu tư của khu vực DNNN. Kiên quyết khắc phục tình trạng đầu tư dàn trải, kéo dài thời gian hoàn thành công trình như lâu nay; áp dụng chính sách tiền tệ chặt chẽ, thận trọng, linh hoạt phải hướng tới kiềm chế lạm phát cao, góp phần ổn định giá trị tiền đồng Việt Nam, tăng dần dự trữ ngoại hối. Nhanh chóng xây dựng các cơ chế, chính sách tăng cường quản lý thị trường ngoại tệ, vàng, khắc phục tình trạng đầu cơ tích trữ, buôn bán trái phép. Tăng cường quản lý hoạt động các NHTM, tránh rủi ro về nợ xấu, bảo đảm tính thanh khoản; khắc phục những bất hợp lý về lợi nhuận và thu nhập trong lĩnh vực này; Triển khai chấn chỉnh thị trường bất động sản, không để trở thành nhân tố tác động gây ra lạm phát cao nhưng cũng tránh gây sốc, làm đóng băng thị trường bất động sản, gây tác động xấu lan truyền đến hệ thống các tổ chức tín dụng và đời sống xã hội; Tận dụng mọi cơ hội tăng cường xuất khẩu; kiểm soát chặt chẽ nhập khẩu; Đẩy mạnh việc tái cấu trúc DNNN theo hướng: cổ phần hóa các tập đoàn kinh tế, các tổng công ty nhà nước; tập trung phát triển ngành sản xuất chính của DN; không khuyến khích phát triển những ngành không liên quan đến ngành sản xuất chính; Thực hiện tốt các chính sách về an sinh xã hội đã ban hành; đồng thời sâu sát nắm tình hình để hỗ trợ kịp thời các đối tượng khác, kể cả đối tượng cận nghèo, người thu nhập thấp gặp nhiều khó khăn do tác động của lạm phát và điều chỉnh giá...

Những chuyển biến tích cực…

Với sự vào cuộc quyết liệt từ các cấp, các ngành, việc triển khai thực hiện các nhiệm vụ KT-XH và NSNN năm 2011 đã đạt được những kết quả quan trọng, góp phần tạo ra những chuyển biến tích cực trong phát triển KT-XH của đất nước.

Về chính sách tài khóa, các bộ, ngành và địa phương đã triển khai các biện pháp tăng thu, chống gian lận thương mại và chống thất thu, đồng thời thực hiện nghiêm túc chủ trương tiết kiệm chi tiêu, cắt giảm 10% chi thường xuyên. Các cấp, các ngành đã thực hiện đồng bộ các giải pháp nhằm cắt giảm, điều chuyển vốn đầu tư phát triển của Nhà nước. Tổng số vốn cắt giảm, điều chuyển khoảng 81.500 tỷ đồng, góp phần hoàn thành thêm 1.053 dự án trong năm 2011… đồng thời, rà soát, cắt giảm và sắp xếp lại đầu tư công, tập trung vốn cho các công trình quan trọng, cấp bách, sắp hoàn thành; miễn, giảm nhiều loại thuế cho DN và cá nhân. Kết quả là, bội chi NSNN cả năm 2011 giảm xuống còn 4,9% GDP (kế hoạch là 5,3%), thu ngân sách tăng, đáp ứng nhu cầu chi và dành một phần để tăng chi trả nợ.

Tổng kim ngạch xuất khẩu năm 2011 tăng khoảng 33% so với năm 2010, cao gấp trên 3 lần chỉ tiêu Quốc hội đề ra (10%). Cộng với việc thực hiện đồng bộ các giải pháp về tiền tệ, tài khóa cũng như các biện pháp quản lý giá, bình ổn thị trường, bảo đảm cân đối cung cầu…, chỉ số giá (CPI) vẫn nằm trong tầm kiểm soát ở mức dưới 18%, đặc biệt từ quý II/2011 chỉ số này đã có sự giảm mạnh, tạo cơ sở vững chắc để thực hiện thắng lợi chỉ tiêu đề ra trong năm 2012, kiềm chế lạm phát ở mức một con số.

Về tiền tệ, tín dụng, Chính phủ đã chỉ đạo thực hiện chính sách tiền tệ chặt chẽ, linh hoạt để ứng phó trong bối cảnh lạm phát gia tăng; cả năm, tổng dư nợ tín dụng tăng 12%, tổng phương tiện thanh toán tăng 12,5%. Vốn tín dụng được tập trung ưu tiên cho sản xuất nông nghiệp, xuất khẩu, công nghiệp hỗ trợ, DN nhỏ và vừa bằng nhiều biện pháp hỗ trợ, cắt giảm thủ tục và điều kiện vay vốn… Đồng thời, giảm tỷ trọng vốn vay của khu vực phi sản xuất như chứng khoán, bất động sản… Những động thái này không những đảm bảo an toàn cho thị trường tài chính mà còn khiến cho lãi suất tín dụng giảm nhanh khi mức lãi suất này liên tục tăng cao. Bên cạnh đó, bằng hàng loạt biện pháp mạnh, xử lý nghiêm tình trạng mua bán ngoại tệ trái phép và điều chỉnh lãi suất ngoại tệ của Ngân hàng Nhà nước đã tạo sự ổn định cho thị trường. Mua bán ngoại tệ và kinh doanh vàng được kiểm soát.  

Năm 2011 còn được đánh giá là năm cán cân thanh toán của nền kinh tế đã có chuyển biến tốt so với các năm trước đó. Cụ thể, cán cân thanh toán tổng thể của Việt Nam năm 2009 bị thâm hụt 8,8 tỷ USD, năm 2010 bị thâm hụt 3,07 tỷ USD, thì năm 2011 không bị thâm hụt mà có thể có thặng dư 3,1 tỷ USD. Nhờ vậy, dự trữ ngoại tệ của Việt Nam đã tăng so với 2 năm trước. Có được kết quả trên là do sự mất cân đối của cán cân thương mại đã giảm so với các năm trước. Nhập siêu hàng hoá đã giảm cả về kim ngạch tuyệt đối, cả về tỷ lệ nhập siêu so với xuất khẩu.

Mặt khác, lượng ngoại tệ vào Việt Nam đạt kết quả khá và lượng ngoại tệ thu hút được từ doanh nghiệp và người dân cũng đạt khá. Tiêu biểu như nguồn vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) thực hiện năm 2011 ước cao hơn mức 11 tỷ USD của năm 2010. Nguồn vốn hỗ trợ phát triển chính thức (ODA) giải ngân ước đạt 3,65 tỷ USD trong năm nay, cao hơn năm 2010 (2,94 tỷ USD). Nguồn ngoại tệ thu được từ khách quốc tế đạt khoảng 5,2 tỷ USD, cao hơn 4,45 tỷ USD của năm 2010. Lượng kiều hối ước đạt khoảng 9 tỷ USD so với con số 8,26 tỷ USD của năm 2010.

Như vậy, cán cân thanh toán được cải thiện, dự trữ ngoại hối tăng là những yếu tố quan trọng trong việc củng cố nguồn lực của quốc gia, tạo lòng tin mạnh mẽ cho người dân trong nước và cộng đồng quốc tế. Bên cạnh đó, ngành nông nghiệp phát triển ổn định, đạt mức kỷ lục về sản lượng lương thực. Sản xuất công nghiệp đạt tốc độ tăng trưởng khá trong điều kiện còn nhiều khó khăn. Chính sách bảo đảm an sinh xã hội được thực hiện tốt, công tác giải quyết việc làm, ổn định đời sống của người lao động, xóa đói giảm nghèo được chú trọng; nhiều chính sách xã hội được triển khai tích cực, góp phần giảm bớt khó khăn và từng bước cải thiện đời sống vật chất, tinh thần của nhân dân… Tất cả các yếu tố trên đã góp phần vào tăng trưởng GDP năm 2011 khoảng 6%, đây là mức tăng khá cao trong điều kiện phải tập trung kiềm chế lạm phát.

Những kết quả tích cực trên khẳng định các giải pháp kiềm chế lạm phát, ổn định kinh tế vĩ mô, bảo đảm an sinh xã hội đề ra là đúng đắn và phù hợp với tình hình thực tế của đất nước, đồng thời đã củng cố thêm niềm tin của nhân dân đối với sự lãnh đạo của Đảng và Nhà nước trước những khó khăn, thách thức hiện nay.

Vẫn còn những tồn tại

Trong năm 2011, lạm phát gia tăng đã buộc phải  thực hiện chính sách thắt chặt tiền tệ, tác động không nhỏ đến thị trường tiền tệ, tăng trưởng tín dụng. Tăng trưởng tổng dư nợ tín dụng năm 2011 chỉ đạt khoảng 50% kế hoạch đề ra. Sự thiếu hụt đồng tiền dẫn đến lãi suất quá cao, cá biệt đã lên đến 25-30% một năm, vượt xa khả năng kinh doanh của DN. Tình hình này khiến sản xuất kinh doanh gặp khó khăn, số doanh nghiệp ngừng hoạt động tăng 21,8% so với năm 2010; Hàng tồn kho tăng, sức mua giảm. Doanh số bán lẻ và tiêu dùng dịch vụ chỉ tăng khoảng 4% (sau khi đã loại trừ yếu tố tăng giá) mức tăng thấp nhất từ trước đến nay; Thị trường chứng khoán và thị trường bất động sản trì trệ; Nợ xấu trong hệ thống NHTM đang có xu hướng tăng…

Nguyên nhân của tình trạng trên là do chính sách vĩ mô không hợp lý kéo dài trong những năm gần đây như: Đầu tư tăng cao làm tổng cầu lớn trong khi hiệu quả đầu tư thấp và mô hình tăng trưởng dựa vào tăng vốn đầu tư, khai thác tài nguyên và lao động rẻ đã vơi cạn tiềm năng, không tạo ra nguồn cung mới, làm nhập khẩu tăng và nhập siêu lớn. Chênh lệch giữa tiết kiệm và đầu tư tăng: Giai đoạn 2001-2005 đầu tư khoảng 38% GDP, tiết kiệm khoảng 32% GDP, giai đoạn 2006- 2010, các chỉ số tương ứng là 42,4% và khoảng 30%. Nhập siêu lớn làm thâm hụt cán cân thương mại, dự trữ ngoại tệ giảm gây sức ép lên tỷ giá. Chênh lệch gữa tỷ giá liên ngân hàng với tỷ giá thị trường tự do giãn rộng, buộc phải điều chỉnh hạ giá VND 9,3% - mức cao nhất so với các lần điều chỉnh trước đây đẩy giá hàng nhập khẩu tăng cao, tạo vòng xoáy lạm phát mới.

Bảng 1: Một số chỉ tiêu kinh tế, xã hội  2012-2015

Chỉ tiêu kinh tế

Năm

2012

2015

Lạm phát

Dưới 10%

5-7%

Tăng trưởng GDP

6-6,5%

Bình quân 5 năm: 6,5-7%

Bội chi ngân sách

4,8% GDP

4,5% GDP

Nợ công

 58,4% GDP

60-65% GDP

Nhập siêu

11,5 - 12% tổng kim ngạch xuất khẩu

10% tổng kim ngạch xuất khẩu

Tổng vốn đầu tư phát triển toàn xã hội

33,5 - 34% GDP

Bình quân 5 năm khoảng 33,5 - 35% GDP

Tóm lại, một số yếu kém, bất cập còn tồn tại trong năm 2011 được biểu hiện như một số chỉ tiêu quan trọng của Kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội năm 2011 chưa hoàn thành, kinh tế vĩ mô chưa ổn định; lạm phát và lãi suất tín dụng còn cao; nợ xấu của hệ thống ngân hàng tăng, thanh khoản của một số NHTM khó khăn, đời sống của nhân dân, nhất là người nghèo, các đối tượng chính sách xã hội, người lao động có thu nhập thấp và đồng bào dân tộc thiểu số còn nhiều khó khăn...  

Triển vọng năm 2012

Hầu hết các dự báo đều thống nhất nhận định kinh tế thế giới năm 2012 vẫn còn u ám, thậm chí còn xấu hơn rất nhiều so với năm 2011. Hai điểm nhấn quan trọng nhất là sự sụt giảm tốc độ tăng trưởng của kinh tế toàn cầu, nhất là của các trung tâm tăng trưởng (Mỹ, EU, Nhật, Trung Quốc) và sự bất ổn gia tăng có khả năng xảy ra cuộc “chiến tranh” tiền tệ và “chiến tranh” thương mại. Điều đó chắc chắn sẽ ảnh hưởng đến kinh tế Việt Nam. Tuy nhiên, với các mục tiêu, nhiệm vụ kinh tế - xã hội đề ra dựa trên cơ sở thực tế năm 2011 cùng sự quyết tâm vào cuộc trong chỉ đạo điều hành và thực hiện của các cấp, các ngành, chắc chắn triển vọng nền kinh tế đất nước sẽ sáng hơn trong năm 2012. Để thực hiện thành công các mục tiêu kế hoạch đặt ra, ngay từ thời điểm này cần thẳng thắn nhìn nhận một cách khách quan thực lực kinh tế Việt Nam để có được sự định vị rõ ràng các mục tiêu phát triển và kịch bản hành động.

Năm 2012 có nhiệm vụ khôi phục ổn định vĩ mô, kiềm chế lạm phát ổn định nền kinh t vĩ mô, duy trì tăng trưởng ở mức hợp lý gắn với đổi mới mô hình tăng trưởng và cơ cấu lại nề kinh tế. Về nguyên tắc, đó là những nhiệm vụ "thông thường" của một nền kinh tế khi lâm vào tình trạng khó khăn. Nhưng năm 2012 là năm đặc biệt, theo nghĩa đây là năm nền kinh tế lâm vào tình thế khó khăn nghiêm trọng, cũng là năm nền kinh tế phải tạo bước ngoặt để xoay chuyển tình hình – ổn định kinh tế vững chắc để khôi phục lòng tin, hạ thấp lạm phát đến mức giúp các DN không lún sâu hơn vào tình thế bi kịch (số DN bị đóng cửa và phá sản tiếp tục tăng). Ngoài ra, năm 2012 còn một điểm nhấn đặc biệt khác: tiến hành tái cấu trúc nền kinh tế với các hành động thực tế mang tính chiến lược để thay đổi mô hình tăng trưởng.

Để thực hiện các nhiệm vụ – mục tiêu đó, ngay từ bây giờ, cần quán triệt tư duy "đánh đổi" khi cân nhắc mức độ ưu tiên giữa mục tiêu ổn định – cải cách (tái cấu trúc) và mục tiêu tăng trưởng trên quan điểm lợi ích phát triển dài hạn.

Về cấp độ ưu tiên, thực tiễn nhiều năm cho thấy để đưa nền kinh tế thoát ra khỏi tình trạng khó khăn hiện nay, không thể không ưu tiên cho nhiệm vụ tái cơ cấu. Nhưng để quá trình tái cơ cấu có thể diễn ra, cần ổn định nền kinh tế để tái lập lòng tin thị trường, lòng tin xã hội. Đây phải là hai mục tiêu – nhiệm vụ ưu tiên cao nhất. Như vậy, tăng trưởng đương nhiên không phải là mục tiêu ưu tiên và phải kiên định với lập trường này.

Mục tiêu ưu tiên là ổn định và khôi phục lòng tin, xác lập mô hình tăng trưởng mới. Bên cạnh đó, các mục tiêu bổ sung là giảm lạm phát xuống 8 - 9%, không quá chú trọng tốc độ tăng trưởng GDP.

Đề xuất chương trình hành động

Trước hết, phải bắt tay ngay vào tái cơ cấu thực sự ba lĩnh vực ưu tiên mà Hội nghị Trung ương 3 đã khẳng định (đầu tư công, hệ thống NHTM, khu vực DNNN).

Ngoài ra, còn phải làm một số việc:

- Cải cách hệ thống lương trong khu vực nhà nước, coi đây là phương cách quyết định để nâng cao hiệu lực, hiệu quả hoạt động của bộ máy nhà nước. Đây là cách để khôi phục lòng tin của dân.

- Cải cách hệ thống ngân sách theo nguyên lý kinh tế thị trường.

- Đẩy mạnh việc thay đổi Luật Đất đai, không để tình trạng Luật Đất đai luôn chạy theo thực tế và cản trở quá trình đổi mới theo hướng thị trường.

- Tập trung ưu tiên dành vốn nhà nước để xây dựng bốn khu kinh tế tự do, với thể chế hiện đại, đột phá mở đường cho bốn vùng kinh tế trọng điểm (Phú Quốc, Vũng Tàu, Đà Nẵng – Chân Mây, Hải Phòng).

Đó là những yếu tố chính của kịch bản hành động nhằm đạt được kịch bản tăng trưởng với những mục tiêu khiêm tốn hơn về tăng trưởng GDP, song khốc liệt hơn gấp bội về chống lạm phát, ổn định vĩ mô và tái cơ cấu.

ThS. Dương Thị Kim Tuyến
[Trở về]
BÀI VIẾT LIÊN QUAN:

Trang  1