Kinh tế - tài chính vĩ mô
Thực hiện nhiệm vụ tài chính - ngân sách 2011: Điểm sáng của kinh tế vĩ mô (19-01-2012 9:04:35)
TCTC Online - Kết quả thực hiện các nhiệm vụ tài chính, ngân sách năm 2011 đã cho thấy các cơ chế, chính sách trong lĩnh vực tài chính đã được ban hành theo tinh thần Nghị quyết 11/NQ-CP là đúng hướng và phù hợp, nhờ đó, đã góp phần quan trọng trong việc đảm bảo ổn định vĩ mô, đảm bảo sự chủ động trong việc thực hiện các nhiệm vụ tài chính, ngân sách; đồng thời góp phần thực hiện kịp thời, đầy đủ các chính sách về an sinh xã hội, xóa đói, giảm nghèo, đảm bảo ổn định đời sống nhân dân.

Năm 2011, tình hình kinh tế thế giới và trong nước tiếp tục có những diễn biến phức tạp, khó lường. Trên thế giới, nhiều nước phải đối mặt với tình trạng thất nghiệp cao, lạm phát tăng, tăng trưởng kinh tế chậm lại, thâm hụt ngân sách cao và khủng hoảng nợ công có nguy cơ lan rộng, căng thẳng và bất ổn chính trị xảy ra tại một số quốc gia. Ở trong nước, tình trạng lạm phát tăng cao, thị trường tiền tệ diễn biến phức tạp, thiên tai, thời tiết bất lợi đã tác động xấu tới sản xuất và đời sống của nhân dân.

Ngay từ đầu năm, các nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội đặt ra cho năm 2011 đã được tổ chức thực hiện quyết liệt, đồng bộ với nhiều nhóm giải pháp khác nhau. Tiếp theo Nghị quyết số 02/NQ-CP ngày 09/01/2011 về những giải pháp chủ yếu chỉ đạo, điều hành thực hiện kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội và dự toán NSNN năm 2011, trong tháng 2/2011 Chính phủ tiếp tục ban hành Nghị quyết số 11/NQ-CP đề ra 6 nhóm giải pháp quan trọng, trong đó trọng tâm là kiềm chế lạm phát, ổn định kinh tế vĩ mô, bảo đảm an sinh xã hội. Các quan điểm điều hành chính sách tài khóa tiền tệ theo hướng thắt chặt đã được thể hiện cụ thể với những chỉ tiêu tài chính, tiền tệ rõ ràng.

Để thực hiện các giải pháp đặt ra trong Nghị quyết 11/NQ-CP, trong phạm vi chức năng, nhiệm vụ được giao, Bộ Tài chính đã xây dựng một bản Kế hoạch hành động cụ thể (Quyết định số 527/QĐ-BTC ngày 01/3/2011). Đồng thời, đã chủ động ban hành và trình cấp có thẩm quyền ban hành các văn bản điều chỉnh chính sách tài khoá theo sát các định hướng và chủ trương đặt ra; kịp thời hướng dẫn các bộ, cơ quan trung ương, địa phương và các doanh nghiệp tổ chức thực hiện hiệu quả các nhiệm vụ tài chính - ngân sách năm 2011.

Những điều chỉnh trong chính sách tài khoá năm 2011

Về chính sách thu NSNN

- Thực hiện rà soát, nghiên cứu và hoàn thiện hệ thống chính sách thu ngân sách

Bộ Tài chính đã thực hiện rà soát và trình cấp có thẩm quyền ban hành hoặc ban hành theo thẩm quyền điều chỉnh một số chính sách về thuế, phí cho phù hợp với nhiệm vụ ổn định kinh tế vĩ mô như nghiên cứu để trình Chính phủ sửa đổi, bổ sung các Nghị định hướng dẫn Luật thuế thu nhập doanh nghiệp (TNDN), Luật thuế giá trị gia tăng (GTGT) và Luật thuế tiêu thụ đặc biệt (TTĐB). Đồng thời, trình Chính phủ ban hành các Nghị định để hướng dẫn thi hành Luật thuế bảo vệ môi trường, Luật thuế sử dụng đất phi nông nghiệp và kịp thời ban hành các thông tư hướng dẫn để tạo sự chủ động cho thực hiện hai Luật thuế mới này từ 1/1/2012.

- Ban hành chính sách miễn, giảm, gia hạn thời hạn nộp thuế của một số sắc thuế; đồng thời tăng thuế suất thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu đối với một số mặt hàng.

• Về thuế thu nhập cá nhân: i) thực hiện miễn thuế TNCN từ ngày 01/8/2011 đến hết ngày 31/12/2011 đối với các khoản thu nhập từ cổ tức được chia cho cá nhân từ hoạt động đầu tư vào thị trường chứng khoán, góp vốn mua cổ phần của doanh nghiệp (trừ cổ tức của các ngân hàng cổ phần, quỹ đầu tư tài chính, tổ chức tín dụng); miễn thuế TNCN đối với cá nhân có thu nhập tính thuế từ tiền lương, tiền công và từ kinh doanh đến mức phải chịu thuế TNCN ở mức 5%; ii) giảm 50% số thuế TNCN phải nộp đối với hoạt động chuyển nhượng chứng khoán của cá nhân từ ngày 1/8/2011 đến hết ngày 31/12/2011 và giảm 50% mức thuế khoán thuế TNCN đối với cá nhân, hộ kinh doanh nhà trọ, phòng trọ cho thuê đối với công nhân, người lao động, sinh viên, học sinh; hộ, cá nhân chăm sóc trông giữ trẻ; hộ, cá nhân, tổ chức cung ứng suất ăn ca cho công nhân từ quý III/2011 đến hết năm 2011.

• Về thuế TNDN: i) giảm 30% số thuế TNDN phải nộp năm 2011 đối với doanh nghiệp nhỏ và vừa và doanh nghiệp sử dụng nhiều lao động trong lĩnh vực sản xuất, gia công, chế biến nông sản, lâm sản, thuỷ sản, dệt may, da giày, linh kiện điện tử, xây dựng các công trình hạ tầng kinh tế xã hội và giảm 50% số thuế TNDN phải nộp đối với tổ chức cung ứng suất ăn ca cho công nhân từ quý III/2011 đến hết năm 2011; ii) gia hạn thời hạn nộp thuế trong thời gian 1 năm cho doanh nghiệp nhỏ và vừa và doanh nghiệp sử dụng nhiều lao động hoạt động sản xuất, gia công, chế biến nông sản, lâm sản, thuỷ sản, dệt may, da giày, linh kiện điện tử, xây dựng các công trình hạ tầng kinh tế xã hội.

• Về thuế GTGT: Thực hiện giảm 50% mức thuế khoán thuế GTGT từ quý III/2011 đến hết năm 2011 đối với tổ chức cung ứng suất ăn ca cho công nhân với điều kiện giá cung ứng suất ăn ca như cuối năm 2010.

• Về chính sách thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu: Thực hiện tăng thuế suất thuế xuất khẩu đối mới một số nhóm hàng hóa như quặng sắt và tinh quặng sắt, gỗ và các sản phẩm gỗ… nhằm hạn chế xuất khẩu tài nguyên thô và đảm bảo nguyên liệu cho sản xuất trong nước. Từ 11/9/2011, thuế suất thuế xuất khẩu than đá, than cốc, than quả bàng có thuế suất tăng từ 15% lên 20%; nhôm dạng thỏi, chì dạng thỏi có thuế suất tăng từ 5% lên 15%; kẽm dạng thỏi, thiếc dạng thỏi có thuế suất tăng tư 5% lên 10%… Đồng thời, để góp phần kiềm chế nhập siêu, Bộ Tài chính cũng đã thực hiện điều chỉnh tăng thuế suất thuế nhập khẩu ưu đãi đối với một số mặt hàng không khuyến khích nhập khẩu.
Về chính sách chi NSNN

- Thực hiện thắt chặt chi tiêu công thông qua việc cắt giảm đầu tư công, không ứng trước vốn NSNN và vốn trái phiếu Chính phủ năm 2012; thực hiện tiết kiệm thêm 10% chi thường xuyên.

Thực hiện Nghị quyết 02/NQ-CP và Nghị quyết số 11/NQ-CP của Chính phủ, Bộ Tài chính đã ban hành kịp thời các văn bản hướng dẫn thực hiện, đồng thời yêu cầu các bộ, ngành, địa phương thực hiện rà soát, cắt giảm, sắp xếp lại để điều chuyển vốn đầu tư từ NSNN, trái phiếu Chính phủ năm 2011 trong phạm vi quản lý để tập trung vốn đẩy nhanh tiến độ các công trình, dự án quan trọng, cấp bách; không khởi công các công trình, dự án mới và không ứng trước vốn NSNN, vốn trái phiếu Chính phủ năm 2012 cho các dự án, trừ các dự án, công trình phòng chống khắc phục hậu quả thiên tai cấp bách và các dự án trọng điểm quốc gia; không kéo dài thời gian thực hiện các khoản vốn đầu tư từ NSNN, trái phiếu Chính phủ năm 2011 để bổ sung vốn cho các công trình, dự án hoàn thành trong năm 2011.

Đối với chi thường xuyên NSNN, thực hiện tiết kiệm thêm 10% chi thường xuyên còn lại của 9 tháng năm 2011 trên cơ sở giảm tối đa chi phí điện nước, điện thoại, văn phòng phẩm, xăng dầu, không bố trí kinh phí cho việc chưa thật sự cấp bách; thực hiện tiết giảm tối đa chi phí hội thảo, hội nghị, tổng kết, sơ kết, đi công tác trong và ngoài nước…

- Xây dựng và hoàn thiện các cơ chế, chính sách quản lý chi ngân sách nhằm nâng cao hiệu quả chi NSNN.

Trong năm 2011, Bộ Tài chính đã ban hành nhiều văn bản hướng dẫn chính sách, chế độ để tăng cường quản lý chi NSNN, đảm bảo chi NSNN tiết kiệm, hiệu quả như ban hành Thông tư số 10/2011/TT-BTC hướng dẫn quản lý, sử dụng chi phí quản lý các dự án sử dụng vốn NSNN và Thông tư 19/2011/TT-BTC hướng dẫn về quyết toán dự án hoàn thành thuộc nguồn vốn NSNN.

- Ban hành các chính sách trợ cấp khó khăn cho một số đối tượng và điều chỉnh tăng chính sách lương tối thiểu theo lộ trình để đảm bảo an sinh xã hội.

Nhằm đảm bảo an sinh xã hội trước áp lực lạm phát tăng cao những tháng đầu năm, Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Quyết định về trợ cấp khó khăn đối với cán bộ, công chức, viên chức, lực lượng vũ trang đời sống khó khăn có hệ số lương từ 3,00 trở xuống và trợ cấp khó khăn cho người hưởng lương hưu, trợ cấp bảo hiểm xã hội mức thấp từ 2,2 triệu đồng/tháng trở xuống. Đồng thời, thực hiện trợ cấp cho người có công với cách mạng hưởng trợ cấp thường xuyên và người hưởng trợ cấp tuất, hộ nghèo theo chuẩn nghèo mới theo Quyết định 09/2011/QĐ-TTg ngày 30/1/2011 với mức hỗ trợ từ 100.000 đồng/người đến 250.000 đồng/người. Thực hiện hỗ trợ tiền điện cho hộ nghèo do tác động tăng giá điện mức 30.000 đồng/hộ/tháng. Thực hiện lộ trình cải cách tiền lương, tháng 4/2011 Chính phủ cũng đã ban hành Nghị định 22/2011/NĐ-CP quy định mức lương tối thiểu chung tăng từ 730.000 đồng lên 830.000 đồng/tháng áp dụng đối với cán bộ, công chức, viên chức, lực lượng vũ trang và người lao động trong các cơ quan nhà nước, đơn vị sự nghiệp, công ty trách nhiệm hữu hạn 1 thành viên do nhà nước làm chủ sở hữu. Trong năm 2011, Nhà nước tiếp tục triển khai thực hiện chính sách hỗ trợ lãi suất vay vốn trung, dài hạn để các doanh nghiệp tiếp tục duy trì hoạt động đầu tư phát triển hoặc ứng vốn không lãi cho các doanh nghiệp dự trữ hàng hoá bình ổn giá.

Về cân đối ngân sách và nợ công

Nghị quyết 11/NQ-CP nêu rõ yêu cầu thực hiện giảm bội chi NSNN năm 2011 xuống dưới 5% GDP. Đồng thời, thực hiện rà soát nợ Chính phủ, nợ quốc gia, hạn chế nợ dự phòng, không mở rộng đối tượng phạm vi bảo lãnh chính phủ, bảo đảm dư nợ chính phủ, dư nợ công, dư nợ nước ngoài trong giới hạn an toàn và an toàn tài chính quốc gia.

Các kết quả đạt được

Nhìn chung, chính sách tài khoá năm 2011 được ban hành và triển khai thực hiện phù hợp với tình hình thực tế và đã đem lại nhiều kết quả tích cực như đà tăng chỉ số giá tiêu dùng trong những tháng cuối năm đã chậm lại và có chiều hướng giảm dần so với những tháng đầu năm; nhập siêu năm 2011 ước vào khoảng 9,9% kim ngạch xuất khẩu, mức thấp nhất trong nhiều năm trở lại đây; tăng trưởng GDP trong 9 tháng đầu năm 2011 ước đạt 5,89%. Việc thực hiện nhiệm vụ NSNN cũng đạt kết quả tốt hơn so với cùng kỳ các năm 2009 và 2010, cụ thể:

Thu NSNN vượt dự toán

Mặc dù thực hiện các chính sách miễn, giảm và gia hạn nộp thuế trong năm 2011 nhưng tổng thu NSNN 11 tháng năm 2011 ước đạt 674,5 nghìn tỷ đồng, vượt 13,4% so với dự toán, tăng 20,6% so với thực hiện năm 2010. Trong đó, một số khoản thu đạt và vượt dự toán cao như thu từ dầu thô vượt 44,3% so với dự toán, tăng 44,6% so với ước thực hiện năm 2010; các khoản thu về nhà, đất ước đạt 142,3% dự toán, tăng 4% so với năm 2010. Một số khoản thu đạt khá so với dự toán như thu nội địa vượt 11,3% so với dự toán và tăng 19,9% so với thực hiện năm 2010. Thu cân đối ngân sách từ hoạt động xuất nhập khẩu cũng đạt cao, vượt 3,8% so với dự toán, tăng 10,7% so với năm 2010. Đạt được kết quả này một phần là do trong năm đã tăng cường và nâng cao chất lượng quản lý thu NSNN, đẩy mạnh việc kiểm tra, thanh tra thuế, chống thất thu ngân sách và xử lý, thu hồi nợ đọng thuế, tiếp tục thực hiện cải cách hành chính thuế.

Chi NSNN đã bám sát dự toán, chủ động xử lý các vấn đề cấp bách phát sinh.

Tổng chi NSNN năm 2011 ước đạt 796 nghìn tỷ đồng, tăng 9,7% so với dự toán. Trong đó, chi đầu tư phát triển ước đạt 175 nghìn tỷ đồng, tăng 15,1% so với dự toán, tăng 9% so với năm 2010 và chi phát triển sự nghiệp kinh tế - xã hội, quốc phòng, an ninh, quản lý hành chính ước đạt 491,5 nghìn tỷ đồng, tăng 4,8% so với dự toán. Nhìn chung, chi NSNN cơ bản bám sát dự toán NSNN, đảm bảo cấp phát, thanh toán vốn đầu tư xây dựng cơ bản, thực hiện thanh toán trả nợ đầy đủ và đúng hạn theo cam kết, chi NSNN đảm bảo hoạt động của bộ máy nhà nước cũng như chủ động xử lý các vấn đề đột xuất, cấp bách phát sinh. Công tác kiểm soát chi được thực hiện thường xuyên, liên tục, chặt chẽ. Trong 11 tháng năm 2011 hệ thống Kho bạc Nhà nước đã phát hiện trên 44.000 khoản chi của 21.800 lượt đơn vị chưa chấp hành đúng quy định, thủ tục, hồ sơ; từ chối thanh toán trên 486 tỷ đồng các khoản chi không đúng chế độ.

Cân đối ngân sách tích cực

Nhờ có các biện pháp quản lý thu NSNN và kiểm soát chi NSNN nên cân đối ngân sách tích cực hơn, tạo điều kiện giảm mức bội chi NSNN xuống thấp hơn mức Quốc hội cho phép. Đã ưu tiên sử dụng số tăng thu để giảm bội chi NSNN nên ước bội chi NSNN 2011 xuống dưới mức 4,9% GDP. Thực hiện tăng chi trả nợ, giảm áp lực nợ công. Nợ công tính đến 31/12/2011 dự kiến là 54,6% GDP, nợ chính phủ là 43,6% GDP và nợ quốc gia là 41,5% GDP.

Định hướng chính sách tài khoá năm 2012

Sang năm 2012, tình hình kinh tế thế giới dự báo tiếp tục sẽ còn có biến động khó lường, cuộc khủng hoảng nợ công ở các nước phát triển chưa có dấu hiệu lắng dịu và đang có xu hướng lan rộng. Các khó khăn đối với kinh tế trong nước vẫn còn hiện diện, nhất là đối với vấn đề kiểm soát lạm phát và hạn chế nhập siêu. Yêu cầu về phục hồi và phát triển bền vững trong trung và dài hạn vẫn đặt ra nhiều khó khăn, thách thức đối với nền kinh tế trong nước.

Trong khi đó, nhiệm vụ tài chính- ngân sách năm 2012 đặt ra là khá lớn. Theo dự toán ngân sách năm 2012 được Quốc hội thông qua, dự toán thu NSNN năm 2012 là 740,5 nghìn tỷ đồng, tăng 24,5% so với ước thực hiện của năm 2011; dự toán chi NSNN năm 2012 sẽ là 903 nghìn tỷ đồng, tăng 24,5% so với ước thực hiện năm 2011. Thâm hụt ngân sách năm 2012 ở mức 4,8% GDP. Theo đó, để thực hiện có hiệu quả các nhiệm vụ này, các giải pháp về tài chính ngân sách đặt ra cho năm 2012 là:

Một là, tiếp tục tập trung các biện pháp kiềm chế lạm phát, ổn định kinh tế vĩ mô và đảm bảo an sinh xã hội. Thực hiện các biện pháp tài chính- ngân sách chặt chẽ, trong đó tập trung vào việc nghiêm chỉnh thực hiện thu chi NSNN theo đúng qui định của pháp luật về thuế, phí và Luật NSNN; tăng cường quản lý thu, chống thất thu NSNN. Đồng thời, tăng cường kỷ luật tài chính, giữ vững an ninh tài chính chủ động không để diễn ra bất ổn kinh tế vĩ mô. Thực hiện xây dựng lộ trình để giảm dần mức bội chi ngân sách để đảm bảo sự bền vững tài khoá trong dài hạn, trong đó cần quản lý, sử dụng hiệu quả nguồn tăng thu ngân sách; ưu tiên sử dụng nguồn tăng thu để giảm bội chi NSNN, qua đó từng bước mở rộng “không gian tài khóa”.

Hai là, rà soát và hoàn thiện các chính sách thuế nói riêng và chính sách thu NSNN nói chung theo hướng giảm thuế suất và mở rộng đối tượng chịu thuế; tiếp tục điều hành chính sách thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu theo hướng tiếp tục ưu tiên mục tiêu kiềm chế nhập siêu, hạn chế tối đa việc xuất khẩu tài nguyên, khoáng sản thô chưa qua chế biến, nhất là đối với nguồn tài nguyên không tái tạo. Rà soát và hoàn thiện quy trình, thủ tục quản lý thuế, hành chính thuế nhằm tạo thuận lợi cho các doanh nghiệp và cá nhân thu nộp NSNN.

Ba là, tiếp tục thực hiện các chính sách miễn, giảm, gia hạn thời gian nộp thuế đối với các tổ chức, cá nhân, doanh nghiệp nhỏ và vừa sử dụng nhiều lao động và hoạt động trong các lĩnh vực sản xuất, gia công, chế biến nông sản, lâm sản, thuỷ sản, dệt may, da giày, linh kiện điện tử, xây dựng hạ tầng kinh tế xã hội. Việc thực hiện miễn, giảm, giãn thời hạn nộp thuế cần tập trung vào chính sách thuế TNCN và đặc biệt là thuế TNDN trên cơ sở dự báo diễn biến kinh tế trong và ngoài nước để có những phương án chính sách cụ thể. Nghiên cứu để có chính sách miễn, giảm, giãn thuế phù hợp đối với các khu vực, đối tượng chịu ảnh hưởng nặng nề từ chính sách thắt chặt, từ lạm phát như khu vực doanh nghiệp vừa và nhỏ, đối tượng nghèo, khó khăn.

Bốn là, tăng cường quản lý các khoản chi NSNN, nhất là chi đầu tư xây dựng cơ bản, quản lý chặt chẽ chi thường xuyên, thực hành tiết kiệm, chống lãng phí trên cơ sở thực hiện rà soát lại các khoản chi và trong từng khoản chi thực hiện rà soát lại các nội dung chi. Đồng thời tiếp tục hoàn thiện hệ thống các tiêu chí cụ thể về phân bổ ngân sách đầu tư và thường xuyên, xây dựng các tiêu chí ưu tiên chi rõ ràng nhằm nâng cao hiệu quả phân bổ ngân sách. Hạn chế tối đa việc bổ sung ngoài dự toán ngân sách. Nghiên cứu để hướng tới áp dụng quản lý và phân bổ ngân sách theo Khuôn khổ ngân sách trung hạn, gắn với việc ban hành hệ thống chỉ tiêu đánh giá kết quả hoạt động.

Năm là, nghiên cứu để đưa vào cân đối thu ngân sách, chi ngân sách các khoản thu, chi phù hợp với thông lệ quốc tế để tăng cường tính minh bạch, tính chính xác trong bức tranh tài khóa ngân sách hàng năm;

Sáu là, tiếp tục hiện đẩy mạnh việc đổi mới cơ chế tự chủ tài chính đối với các đơn vị sự nghiệp công gắn với đẩy mạnh xã hội hoá hoạt động cung ứng dịch vụ công, trong đó tập trung thực hiện có hiệu quả các định hướng và chủ trương tại Thông báo số 37-TB-TW ngày 26/5/2011 của Bộ Chính trị về Đề án “Đổi mới cơ chế hoạt động các đơn vị sự nghiệp công lập, đẩy mạnh xã hội hóa một số loại hình dịch vụ công lập”. Từng bước chuyển một số loại phí sang giá dịch vụ theo hướng tính đúng, tính đủ chi phí gắn với nâng cao chất lượng dịch vụ công, đồng thời Nhà nước có cơ chế để đảm bảo tính công bằng cho mọi đối tượng đều được hưởng dịch vụ công có chất lượng.

Cuối cùng, cần tăng cường sự phối hợp và đảm bảo sự nhất quán trong điều hành chính sách kinh tế vĩ mô, đặc biệt là trong việc phối hợp thực hiện chính sách tài khóa và chính sách tiền tệ.

Theo Viện Chiến lược và Chính sách tài chính
[Trở về]
BÀI VIẾT LIÊN QUAN:

Trang  1