Phát triển vùng kinh tế là đòi hỏi tất yếu
Ngay từ khi các nước châu âu bước vào thời kỳ công nghiệp hóa, các vấn đề tối ưu hóa lợi nhuận của quá trình sản xuất, kinh doanh đã lần lượt được đặt ra với các vùng lãnh thổ (trước thường thuộc quyền cai quản của một nhà quý tộc) và sau này rộng hơn đã vượt ra ngoài biên giới quốc gia. Các lý luận về phân vùng kinh tế ngay từ đầu đã thống nhất khái niệm: sự phân công sản xuất theo vùng là kết quả của phân công lao động xã hội vượt quá giới hạn hành chính của một địa phương, là cơ sở của phát triển thương mại và thị trường trong nước sau phát triển thành thị trường quốc tế.
Theo đó, sự phân công được thể hiện ở các đặc điểm như: khu vực được phân vùng có sản phẩm với một số lượng nhất định, được sản xuất theo phương thức công nghiệp có thể quy định tới thị trường sản phẩm trong nước và quốc tế. Các hoạt động trao đổi hàng hóa của vùng được tiến hành theo quy luật của thị trường và chịu sự điều tiết của quy luật giá trị, của ý muốn chính trị và phần nào bởi sự phân chia lợi ích của cư dân của từng vùng. Sự phân chia các vùng kinh tế là một bộ phận cấu thành thị trường nội địa và cả thị trường quốc tế phù hợp với quá trình hội nhập và toàn cầu hóa.
Đồng thời, phân chia vùng kinh tế cũng chịu sự chi phối sâu sắc của tiến bộ khoa học kỹ thuật hiện đại được thể hiện ở sự phân công cả về chiều rộng và chiều sâu, từ chuyên môn hóa giữa các ngành, các vùng kinh tế đến phân công trong ngành, trong vùng kinh tế theo hướng không cùng cơ sở đến chuyên môn hóa linh kiện, chi tiết. Các Tập đoàn, tổng công ty lớn ra đời cũng là một động lực thúc đẩy quá trình phân vùng kinh tế phát triển.
Trong các tác phẩm của Karl – Marx cũng đề cập đến vấn đề phân công, phân vùng trong quá trình phát triển kinh tế thế giới. Marx cho rằng, do khoa học công nghệ phát triển nên việc sản xuất một lượng hàng hóa lớn cung ứng cho thị trường đã làm cho nền kinh tế thoát ly khỏi biên giới của một quốc gia để hình thành nên một kiểu phân công mới, thích ứng với trung tâm sản xuất lớn. Đó chính là các yếu tố khách quan hình thành sự phân chia vùng kinh tế.
Sự phân chia các vùng kinh tế theo kiểu vùng sản xuất lớn – vùng cung ứng phụ thuộc bản thân nó đã thể hiện sự không bình đẳng về lợi nhuận kinh tế. Với những vùng kinh tế phát triển thì trở thành trung tâm hoạt động kinh tế nên mọi lợi nhuận đều tập trung ở đây. Các vùng khai thác trở thành phụ thuộc, thành thị trường tiêu thụ hàng hóa, nơi cung ứng nguyên liệu thô, gia công cho vùng kinh tế phát triển. Đây chính là điều làm cho các vùng kinh tế ngày càng cần đến nhau, phụ thuộc vào nhau và cần một sự điều tiết vĩ mô của nhà nước vì số đông. Marx đã phân tích một cách khoa học tính khách quan của phân công sản xuất từ sức sản xuất, nêu rõ tính tất yếu bắt buộc của việc hình thành các vùng kinh tế đồng thời cũng chỉ ra những khiếm khuyết của quá trình hình thành các vùng kinh tế này.
Một đặc điểm của vùng kinh tế là sự phân công theo trình độ giữa các vùng có các sản phẩm giống nhau với trình độ gần như nhau và được thực hiện đối với một sản phẩm hay trình độ sản xuất. Ví dụ đối với ngành may mặc, sản phẩm áo sơ mi do nhiều công ty cung cấp đối với trình độ kỹ thuật gần như nhau nhưng khác nhau về mẫu mã, quy cách và giá cả có sự xê dịch không nhiều. Điều này thể hiện tính đa dạng của cạnh tranh và thị hiếu của người tiêu dùng. Đây còn được gọi là sự phân công theo sự khác biệt của sản phẩm. Do sự phát triển công nghiệp ở các địa phương không đồng đều, các ngành công nghiệp coi trọng khác nhau, trình độ và tình hình phát triển còn có sự khác biệt nên sự phân công giữa các vùng về công nghiệp ngày càng quan trọng. Các vùng phải lấy sản phẩm trọng điểm của mình đổi lấy những sản phẩm của ngành không có ưu thế để hình thành thị trường nội địa và tiến tới quốc tế.
Nhìn chung, các vùng kinh tế chủ yếu được hình thành dựa trên phân công sản xuất theo chiều dọc và thường diễn ra theo hai cách. Cách thứ nhất, hình thành vùng nguyên liệu thô, sản phẩm sơ chế và có vùng cung cấp thành phẩm đã chế biến tinh. Khi nền kinh tế càng phát triển thì sự phân công càng tỷ mỷ, sản phẩm càng phức tạp với trình độ ngày càng cao thì số lần gia công càng lớn. Quá trình sản xuất hai lợi sơ cấp và thành phẩm tạo ra mối liên hệ theo chiều dọc, gắn kết cả hai vùng kinh tế với nhau. Cách thứ hai, là sự phân công giữa các công đoạn có mức độ kỹ thuật cao với công đoạn có yêu cầu trung bình và thấp cùng một sản phẩm. Cách này có thể nhận thấy ở sản phẩm ô tô, xe máy, máy bay, máy tính...
Cả hai cách phân công theo chiều dọc này thì khu vực kinh tế phát triển dựa vào thực lực của mình, bắt buộc các vùng nông nghiệp lạc hậu tiến hành phân công lại sản xuất và phụ thuộc vào vùng kinh tế phát triển.
Để giải quyết các vấn đề này, Engel đã đưa ra khái niệm vùng kinh tế phi cạnh tranh, tập đoàn phi cạnh tranh và đến đầu thế kỷ XX, nhà kinh tế học người Mỹ F.W Taussing đã nâng lên thành lý thuyết. Ông cho rằng, chỉ có một số vùng kinh tế có kỹ thuật và đội ngũ công nhân có kỹ năng tương đối cao, còn đa số các vùng kinh tế khác vì vấn đề trình độ kỹ thuật, vốn không có khả năng cạnh tranh với vùng kinh tế phát triển. Vì vậy giữa hai bên sẽ hình thành vùng kinh tế không cạnh tranh. Khi áp dụng lý thuyết phi cạnh tranh vào thực tế đã bổ sung cho học thuyết giá thành so sánh của David Ricardo. Do mức lương có sự khác nhau tùy theo ngành nghề và tính chất kỹ thuật cần thiết ở một số vùng có mức thu nhập thấp thì mức độ giá cả thấp so với vùng có mức thu nhập cao. Điều này có lợi cho việc bán sản phẩm gia công của vùng thu nhập thấp.
Trong quá trình hình thành các vùng kinh tế, Adam Smith đã nêu rõ trong thuyết phân công khu vực rằng, một khu vực kinh tế phải sản xuất những mặt hàng lợi thế nhất của mình với giá thành tuyệt đối rẻ, rồi dùng những sản phẩm này trao đổi với các vùng khác đem về những sản phẩm mà nếu sản xuất tại chỗ sẽ có giá thành cao. Việc thực hiện sự phân công này giúp cả hai vùng kinh tế tiết kiệm được nhiều lao động, nâng cao hiệu suất sử dụng tài nguyên từ đó thu được lợi nhuận cao hơn.
Như vậy, việc phân vùng kinh tế là một đòi hỏi tất yếu trong quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập kinh tế quốc tế. Vấn đề đặt ra ở đây là Việt Nam đã vận dụng kinh nghiệm quốc tế và xử lý các vấn đề nảy sinh trong quá trình phát triển như thế nào?
Định hướng phát triển không gian vùng thay đổi liên tục sẽ kìm hãm đà phát triển của các vùng kinh tế
Sau Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VI, công cuộc đổi mới đất nước bắt đầu được thực hiện đã tạo điều kiện cho nhiều chủ trương phát triển KT-XH, dưới thời kế hoạch hóa tập trung không được đặt ra, nghiên cứu và công bố. Cuối năm 1986, đầu năm 1987, ba tam giác tăng trưởng được hình thành gồm: TP Hồ Chí Minh – Biên Hòa – Vũng Tàu; Hà Nội – Hải Phòng – Hạ Long và Huế – Đà Nẵng – Quảng Ngãi. Đến đầu thập kỷ 90 của thế kỷ trước, khái niệm tam giác tăng trưởng được thay thế bằng khái niệm vùng kinh tế trọng điểm. Điểm chung của cả 3 vùng kinh tế này là đều tiếp giáp với biển, dựa trên 3 cửa ngõ chính về hàng hải, hàng không của cả nước là cảng Hải Phòng, Đà Nẵng và cụm cảng TP Hồ Chí Minh cũng như 3 cảng hàng không quốc tế Nội Bài, Đà Nẵng và Tân Sơn Nhất.
Đến cuối năm 1997, vùng kinh tế Đông Nam Bộ được nâng thành 8 tỉnh, chiếm 10,5% diện tích cả nước. Năm 1998, vùng kinh tế trọng điểm phía Nam được phê duyệt quy hoạch với 4 tỉnh, 8,6 triệu dân và chiếm 11,21% dân số với 3,8 % diện tích tự nhiên của cả nước. Năm 2003, bổ sung thêm 3 tỉnh Tây Ninh, Bình Phước và Long An. Năm 2004, phê duyệt phương hướng phát triển KT-XH vùng kinh tế trọng điểm phía Nam gồm 7 tỉnh và không có hai tỉnh Ninh Thuận, Bình Thuận. Sau đó, bổ sung Tiền Giang vào danh sách các tỉnh vùng kinh tế trọng điểm phía Nam.
Qua số liệu nêu trên cho thấy, chỉ trong vòng chưa đến 10 năm, phạm vi vùng kinh tế trọng điểm phía Nam đã liên tục được điều chỉnh cả về số lượng tỉnh và cả về quy hoạch không gian phát triển, tính trung bình hai năm điều chỉnh một lần. Đây chính là nguyên nhân chủ quan ảnh hưởng đến việc phát triển và phân công theo chiều dọc của các vùng kinh tế. Chính do định hướng phát triển không gian vùng thay đổi liên tục nên các quy hoạch phát triển các ngành sản xuất cũng thay đổi theo, không đáp ứng kịp với thay đổi của tình hình hội nhập kinh tế quốc tế, đặc biệt là việc đầu tư hạ tầng cơ sở phục vụ sản xuất luôn là điểm nghẽn, kìm hãm đà phát triển của các ngành khác. Do thay đổi liên tục về địa giới vùng kinh tế nên nhiệm vụ trọng yếu về phát triển và chuyển dịch cơ cấu kinh tế vùng, định hướng và giải pháp phát triển đến năm 2020 (khi nước ta cơ bản trở thành một nước công nghiệp theo hướng hiện đại) không rõ ràng. Vì vậy, mối liên kết theo chiều dọc, theo liên kết ngành trong vùng kinh tế trọng điểm không phát huy được lợi thế, có lúc lại cạnh tranh với nhau trong cùng một vùng kinh tế, làm mất thời cơ phát triển, gây thiệt hại về kinh tế cho chính những doanh nghiệp hoạt động trong cùng một ngành sản xuất, trong cùng một vùng kinh tế.
Cùng với đó là quy hoạch và bố trí vốn đầu tư cơ sở hạ tầng giao thông trong vùng bị phân tán, không sử dụng được lợi thế địa lý của từng địa phương. Ví dụ như việc không quy hoạch đồng bộ hệ thống cảng biển của cả 3 tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu với TP Hồ Chí Minh và Đồng Nai đã làm lãng phí vốn đầu tư cảng biển, trong khi đó, tuyến giao thông đường bộ nối với cảng lại không đồng bộ, không sử dụng hết lợi thế của tuyến đường sông trong khu vực mà dồn hết nhiệm vụ cho vận tải đường bộ làm cho tình trạng ùn tắc giao thông gia tăng thuận chiều với phát triển kinh tế. Việc bố trí quỹ đất để phục vụ cho việc phát triển những ngành dịch vụ mới vì vậy hết sức khó khăn. Dịch vụ logistic không thể phát triển dẫn đến việc phải kéo dài cầu cảng, mở rộng đường bộ, cải tạo tải trọng cầu, tăng tai nạn giao thông... mà không đầu tư vào các thiết bị nâng hạ hiện đại để giảm chi phí bốc xếp, kéo dài cự ly vận tải đường thủy và hình thành trung tâm ICD của từng khu vực...
Chỉ riêng khi vực cảng Cái Mép – Thị Vải đã có có 6 cảng contener do 4 đơn vị đầu tư. Đó là Vinalines và đơn vị thành viên Cảng Sài Gòn với 3 cảng có tổng công suất 1,8 triệu TEU/năm và Công ty Đầu tư xây dựng thương mại Sài Gòn với công suất 1,2 triệu TEU/năm. Trong khi đó, theo số liệu sơ bộ thì trong số các cảng này chỉ có Tân Cảng là khai thác được hơn 50% công suất thiết kế, cảng SP-PSA khai thác được gần 40% công suất còn lại các cảng khác đều chỉ khai thác chưa đến 10% công suất đầu tư. Điều đáng ngạc nhiên hơn là, hiện nay, Vinalines lại đang chuẩn bị cùng đối tác China Merchants Group chuẩn bị xây dựng cảng Sao Mai – Bến Đình.
Lỗ từ các cảng trên hiện đang là gánh nặng cho các nhà đầu tư. Điều tất yếu là phải nâng chi phí bốc xếp qua cảng, làm cho giá thành sản phẩm xuất khẩu từ Việt Nam bị mất tính cạnh tranh, còn trong nước, người tiêu dùng phải gánh chịu hậu quả từ việc đầu tư kém hiệu quả của các doanh nghiệp. Đứng về quản lý vĩ mô, chúng ta đã không quản lý được việc thực hiện quy hoạch chung từ nguồn vốn của doanh nghiệp nhà nước dẫn đến chỉ số Icor cao, hiệu quả sử dụng vốn đầu tư của doanh nghiệp nhà nước nói riêng, nguồn vốn đầu tư của xã hội nói chung đạt thấp. Đây là nguyên nhân quan trọng làm giảm dần động lực phát triển của vùng kinh tế.
Bên cạnh đó, thực trạng phát triển các vùng kinh tế hiện nay cũng cho thấy, việc xác định ngành động lực của vùng kinh tế gắn với phát triển khu công nghiệp và bảo vệ môi trường chưa rõ ràng, nhất là những ngành mũi nhọn như điện tử, vi tính, phần mềm... Việc quy hoạch vùng kinh tế mới chú trọng đến sản xuất mà chưa chú ý đến quy hoạch quỹ đất, nguồn vốn và cơ chế chính sách cho đất ở, nhà ở của người lao động nông nghiệp chuyển dịch ra thành phố tham gia sản xuất công nghiệp. Đây là nguyên nhân chính làm cho các vấn đề xã hội ngày càng trầm trọng, khoảng cách giàu nghèo ngày càng lớn.
Quyết tâm chính trị rất quan trọng để quy hoạch vùng kinh tế vượt qua tư duy nhiệm kỳ và giới hạn hành chính của một địa phương
Phát triển kinh tế vùng phải dựa vào việc tái cơ cấu để tận dụng mọi nguồn lực hạn hẹp của đất nước thực hiện có trọng tâm trọng điểm các công trình, dự án có khả năng lan tỏa, tạo được nhiều việc làm, tham gia được vào chuỗi giá trị toàn cầu và phù hợp với lợi thế so sánh của đất nước trong từng giai đoạn.
Xử lý mối quan hệ giữa vùng kinh tế với địa giới hành chính theo hướng: Chính phủ và các bộ, ngành Trung ương lập quy hoạch phát triển kinh tế xã hội của vùng không phụ thuộc vào địa giới hành chính và giao cho địa phương thực hiện. Chính phủ chỉ ban hành cơ chế chính sách chung và giám sát việc thực hiện của địa phương. Việc bố trí ngân sách Trung ương cho đầu tư phát triển phải chuyển từ tính bình quân theo đầu người từng tỉnh sang đầu tư theo dự án, công trình trọng điểm. Rà soát lại quy hoạch tổng thể của vùng kinh tế trọng điểm theo định hướng tái cơ cấu nền kinh tế theo quy mô tăng trưởng dựa vào tăng giá trị gia tăng, sản phẩm của vùng kinh tế là một bộ phận cấu thành của sản phẩm mang thương hiệu quốc tế. Trong bối cảnh nước ta hiện nay, việc chỉ đạo xây dựng quy hoạch và thực hiện phát triển KT-XH thì bên cạnh các yếu tố khoa học, công nghệ, thị trường thì quyết tâm chính trị của tổ chức Đảng, của người lãnh đạo là rất quan trọng để quy hoạch vượt qua được giới hạn hành chính của một địa phương và tư duy nhiệm kỳ.
Từ thực tiễn phát triển vùng kinh tế ở nước ta và yêu cầu tái cơ cấu nền kinh tế, xin đề xuất xây dựng quy hoạch phát triển kinh tế vùng Đông Nam Bộ theo một số định hướng lớn như sau: Thành phố Hồ Chí Minh phát triển công nghệ cao, dịch vụ chất lượng cao và dịch vụ tài chính – ngân hàng. Hạn chế tối đa việc hình thành các doanh nghiệp sử dụng nhiều lao động trong khu vực địa giới hành chính của thành phố. Các khu đã có kế hoạch cải tạo phù hợp với tốc độ phát triển kinh tế của thành phố để sau năm 2020 chuyển thành khu R&D công nghệ cao. Hạn chế tối đa dòng giao thông quá cảnh cắt qua thành phố. Bằng mọi biện pháp hành chính, kinh tế để giữ dân số thành phố đến năm 2020 không vượt quá 10 triệu người và ổn định dân số này lâu dài. Chuyển khu cảng hiện nay thành trung tâm du lịch – thương mại, dành quỹ đất phù hợp để hình thành khu vực logistic ở các cửa ngõ thành phố gắn với cảng biển mới. Chuyển dần các ngành sản xuất cần nhiều lao động về các tỉnh Tiền Giang, Long An, Tây Ninh... trong vùng kinh tế trọng điểm. Hình thành cụm công nghiệp dầu khí tại Vũng tàu và trung tâm logistic conteiner phía Nam ở đây phục vụ phát triển kinh tế vùng trọng điểm, tận dụng lợi thế vận tải đường thủy đến các tỉnh trong vùng để giảm áp lực với hệ thống đường bộ. Đối với Đồng Nai, Bình Dương, vấn đề là các sản phẩm phải gắn kết được với các thương hiệu toàn cầu để vừa có thị trường đầu ra ổn định vừa tiếp thu được công nghệ cao thân thiện với môi trường.
Cần đặc biệt chú ý đến các vấn đề xã hội tại các tỉnh trong vùng, nhất là vùng tập trung nhiều người lao động có độ tuổi dao động từ 25-35 tiềm ẩn nhiều vấn đề có khả năng tạo thành điểm nóng. Đồng thời, cần quy hoạch vành đai thực phẩm quanh vùng và trong vùng để đưa phương thức sản xuất công nghiệp vào nông nghiệp tạo điều kiện cho con em nông dân ly nông bất ly hương, không tạo làn sóng di cư ồ ạt ra thành phố. Huy động nguồn lực trong dân với cơ chế chính sách phù hợp để áp dụng xã hội hóa những việc mà người dân có thể làm như dịch vụ y tế ở mức cao, dịch vụ giáo dục theo chuẩn của các nước tiên tiến, các dự án có thể áp dụng phương thức công tư hợp tác. Nhà nước chỉ đảm nhận những dịch vụ cơ bản cho xã hội.