Vượt qua thách thức
Có thể nói cuộc khủng hoảng tài chính châu Á năm 1997-1998 đã giúp các nền kinh tế ASEAN tích luỹ nhiều kinh nghiệm hữu ích về đối phó và xử lý khủng hoảng. Sau khi khủng hoảng tài chính toàn cầu bùng phát năm 2008, là nền kinh tế mới nổi, ASEAN đã kiên quyết nắm vững 3 chủ đề lớn là đầu tư, xuất khẩu và tiêu dùng, coi trọng hợp tác nội ngoại khối trong quá trình phục hồi kinh tế và đã thu được nhiều tiến bộ đáng mừng.
Nửa đầu năm 2011 là giai đoạn khó khăn khi các nước phải gồng mình chống lạm phát. Các chính phủ đặt mục tiêu kiềm chế lạm phát nhưng không làm giảm quá mức tốc độ tăng trưởng. Ngân hàng trung ương nhiều nước thi hành chính sách thắt chặt tiền tệ, nâng lãi suất cơ bản, thu hồi bớt vốn lưu động, cho phép đồng nội tệ tăng giá nhằm giảm sức ép từ bên ngoài. Các chính phủ cũng trực tiếp kiểm soát giá cả, nhất là giá lương thực - nguyên nhân số một gây lạm phát ở châu Á. Các biện pháp mạnh đã làm dịu cơn sốt lạm phát.
Bất ổn thị trường tài chính thế giới không làm suy giảm vị thế các nền kinh tế đang trỗi dậy đối với giới đầu tư. Sau một thời gian trầm lắng vì chịu ảnh hưởng của các cuộc khủng hoảng tài chính-kinh tế những năm 1997-1998 và cuộc khủng hoảng kinh tế hiện nay, ASEAN lại trỗi dậy thu hút sự quan tâm của giới đầu tư khu vực và thế giới. Theo Báo cáo đầu tư toàn cầu 2011, công bố tại Hội nghị của Liên hợp quốc về thương mại và phát triển (UNCTAD), Lượng FDI chảy vào các nước Đông Nam Á đã tăng 107% năm 2010, so với mức giảm 19% năm 2009. Trong số vốn chảy vào thị trường Đông Nam Á, Singapore thu hút trên 30%, Việt Nam 17%, Indonesia 16%, Thái Lan 13% và Malysia 10%.
Việc thực thi các chính sách cơ cấu cần thiết để nâng cao năng suất là tối quan trọng đối với sự thành công của các quốc gia ASEAN trong việc đối mặt với tác động của sự biến động kinh tế vĩ mô toàn cầu và những cú sốc kinh tế khác bên ngoài khu vực. Trong đó, quá trình "tăng trưởng xanh" đã được triển khai như một chiến lược thay thế cho sự phát triển bền vững giai đoạn dài hạn bởi mặc dù lượng phát thải khí CO2 của các nước ASEAN vẫn còn ở mức khiêm tốn so với các quốc gia phát triển, nhưng phát thải từ các quốc gia ASEAN đang ngày một tăng nhanh - ở mức 5,5% mỗi năm tính từ năm 1990 đến năm 2010.
Các nền kinh tế trước kia vốn từng quá phụ thuộc vào các nhu cầu bên ngoài, giờ đây đã đánh giá cao các kênh nội địa. Cánh cửa thông thương rộng mở, kim ngạch trao đổi thương mại nội khối và vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) không ngừng tăng. Tiến trình nhất thể hóa kinh tế khu vực đến nay đã hoàn tất khoảng 80% nội dung trong lộ trình hình thành Cộng đồng kinh tế ASEAN (AEC).
Kinh tế ASEAN những năm gần đây có bước phát triển và tiến bộ đáng kể và nguyên nhân phải kể đến là do 10 nước ASEAN kiên trì thúc đẩy phát triển kinh tế khu vực lấy cơ chế hợp tác 10+3 làm chủ thể trên cơ sở hợp tác 10+1 với Trung Quốc, Nhật Bản và Hàn Quốc.
Sức bật kinh tế tạo thêm sức hút mới cho ASEAN. Mỹ cũng đã công khai chuyển hướng trọng tâm chính sách tới châu Á. Mexico, Nhật Bản đã tham gia đàm phán về Hiệp định Ðối tác kinh tế chiến lược xuyên Thái Bình Dương (TPP).
Triển vọng tươi sáng
Theo Báo cáo "Triển vọng kinh tế Đông Nam Á 2011-2012" của Tổ chức Hợp tác và Phát triển Kinh tế (OECD) công bố ngày 29/11, kinh tế Indonesia dự báo sẽ đạt mức tăng trưởng từ mức 6,3% năm 2011 lên 6,6%/năm trong giai đoạn 2012-2016. Đây là mức tăng trưởng cao nhất trong số 6 nền kinh tế lớn ở Đông Nam Á. Malaysia cũng có mức tăng dự kiến 5,3%, Việt Nam 6,3%, Philippines 4,9%, Singapore 4,6% và Thái Lan 4,5% trong giai đoạn 2012-2016.
Tăng trưởng GDP thực (%)
|
|
2010
|
2011
|
2016
|
Trung bình
2003-07
|
Trung bình
2012-16
|
|
Indonesia
|
6,1
|
6,3
|
6,9
|
5,5
|
6,6
|
|
Malaysia
|
7,2
|
4,6
|
5,6
|
6,0
|
5,3
|
|
Philipinnes
|
7,3
|
4,5
|
5,1
|
5,7
|
4,9
|
|
Singapore
|
14,5
|
5,6
|
4,8
|
7,5
|
4,6
|
|
Thái Lan
|
7,8
|
2,5
|
4,9
|
5,6
|
4,5
|
|
Việt Nam
|
6,8
|
5,9
|
6,7
|
8,1
|
6,3
|
|
Bình quân 6 quốc gia
|
7,6
|
5,0
|
5,9
|
6,1
|
5,6
|
Nguồn: OECD
Báo cáo Economic Insight của ICAEW (Hiệp hội kiểm toán và công chứng Anh và xứ Wales) do Trung tâm Nghiên Cứu Kinh tế và Kinh Doanh xuất bản mới đây cho khu vực Đông Nam Á cũng nhận định nền kinh tế ASEAN được kỳ vọng tiếp tục phát triển mạnh mẽ dù phải đối mặt với sự bất ổn toàn cầu.
Theo đó, những nước có thu nhập trung bình thấp như Indonesia, Lào, Philippines và Việt Nam dẫn đầu khối các quốc gia có tốc độ tăng trưởng cao nhất, được kỳ vọng sẽ đạt từ 5,4% đến 6,1% vào năm 2013, trong khi các nước ASEAN có thu nhập cao như Singapore và Brunei sẽ tăng trưởng yếu hơn do việc gia nhập mạnh mẽ vào nền kinh tế toàn cầu.
Do nhu cầu nội địa tăng cao và sự hội nhập kinh tế ngày càng mạnh mẽ, GDP trong năm 2012 của các nước ASEAN sẽ tiếp tục tăng trưởng mạnh. Điển hình như Indonesia với 40% sản lượng toàn khu vực.
Tăng trưởng kinh tế mạnh mẽ sẽ làm gia tăng lạm phát. Lạm phát ở Indonesia vào năm 2012 là 5% và sẽ tăng lên 5,9% vào năm 2013, nhưng nó là tỷ lệ hợp lý cho một nền kinh tế đang phát triển quá nóng như nước này.
ASEAN đang trở thành điểm đến hấp dẫn đối với dòng vốn FDI. Phó Tổng thư ký ASEAN Puspanathan Sundram cho rằng FDI vào khu vực ASEAN có thể sẽ tăng gấp đôi hiện nay, đạt 80 tỷ USD mỗi năm khi Cộng đồng kinh tế ASEAN (AEC) được thực hiện vào năm 2015. Với những điều kiện thuận lợi tạo ra từ AEC về thương mại, liên kết và vận tải, khu vực ASEAN có thể thu hút được hơn 3,4% FDI toàn cầu.
Toàn cầu hóa khiến các nền kinh tế xuất khẩu ở châu Á không tránh khỏi tác động tiêu cực từ sự đi xuống của các thị trường châu Âu và Mỹ. Viễn cảnh kinh tế u ám của châu Âu và Mỹ sẽ tiếp tục tác động kinh tế toàn cầu năm 2012 nhưng với thị trường hơn 600 triệu dân, tổng GDP gần 1.500 tỷ USD và tốc độ tăng trưởng cao, "khu vực phát triển năng động Ðông Nam Á" được đánh giá vẫn là động lực tăng trưởng ở châu Á - Thái Bình Dương và của cả nền kinh tế thế giới.