Thực trạng và nguyên nhân
Thành công của cải cách kinh tế và hội nhập của nước ta suốt 25 năm qua đã được thừa nhận một cách rộng rãi cả trong và ngoài nước. Tuy vậy, những năm gần đây, mức độ thành công đang có xu hướng giảm dần và những khó khăn, hạn chế đã và đang xuất hiện, gia tăng cả về quy mô, mức độ. Cụ thể, tăng trưởng GDP tuy vẫn ở mức tương đối cao nhưng đang có xu hướng giảm dần. Ngược lại, tỷ lệ lạm phát vốn đã ở mức cao so với các nước trong khu vực, nay lại đang có xu hướng gia tăng. Tốc độ tăng GDP bình quân giai đoạn 2000-2005 là 7,5%/năm, giai đoạn 2006-2010 là 7%/năm; nếu chỉ tính giai đoạn 2008-2010 thì chỉ còn khoảng 6%/năm và sẽ thấp hơn trong năm 2011...
Tăng trưởng GDP không còn cao nhất trong khu vực, khi năm 2011 dự kiến đứng thứ 4 trong khu vực và đứng thứ 28 trên thế giới; trong các năm gần đây, tăng trưởng GDP của nước ta luôn thấp hơn mức bình quân của các nước đang phát triển. Lạm phát trung bình giai đoạn 2000-2005 là 5,1%/ năm, và trung bình cho giai đoạn 2006-2010 là 11,4%/ năm. Năm 2011, tỷ lệ lạm phát lên đến trên 18% so với năm 2010. Từ năm 2007, lạm phát luôn ở mức hai con số (trừ năm 2009), cao hơn nhiều so với tốc độ tăng trưởng và thuộc một trong số các nền kinh tế có lạm phát cao nhất thế giới.
Các cân đối vĩ mô (gồm thâm hụt cán cân vãng lại, thâm hụt tài khóa, chênh lệch tiết kiệm trong nước và đầu tư xã hội, dữ trự ngoại tệ quốc gia.v.v… thiếu vững chắc, nhiều năm chưa được cải thiện, thậm chí nợ nước ngoài và nợ công đang có xu hướng xấu đi. Giá trị đồng nội tệ chưa được ổn định, trong ba năm qua đã có tới 6 lần phá giá; là đồng tiền duy nhất trong khu vực bị mất giá so với USD.
Chỉ số CPI năm 2010 so với năm 2000 tăng hơn 230%; so với năm 2005 tăng khoảng 180%. Trong khi đó, tiền lương và thu nhập danh nghĩa của người lao động không thể điều chỉnh tương ứng. Vì vậy, mức sống thực tế của người lao động giảm sút.
Thực trạng kinh tế hiện nay ở nước ta là kết quả của nhiều nguyên nhân, trong đó có hai nguyên nhân chủ yếu sau đây:
Một là, các yếu tố của mô hình tăng trưởng theo chiều rộng (gia tăng quy mô vốn đầu tư) đã tới hạn; động lực tăng trưởng phụ thuộc vào gia tăng vốn đầu tư, gia tăng số lượng lao động.v.v... đã yếu và đang giảm dần. Cụ thể, vốn đầu tư xã hội đã huy động ở mức cao, chiếm tới hơn 40% GDP trong những năm qua; gia tăng quy mô vốn đầu tư đóng góp hơn 2/3 tăng trưởng GDP, hiệu quả sử dụng vốn đầu tư thấp và đang có xu hướng giảm dần. Xét về giá trị đồng vốn, thì chi phí phải trả cho một đơn vị tăng trưởng khá cao và đang có xu hướng tăng lên, trong khi đó, năng suất lao động, hiệu quả sử dụng nguồn lực, nhất là hiệu quả đầu tư thấp và đang có xu hướng giảm.
Hai là, tư duy và cơ chế quản lý, điều hành nền kinh tế không còn phù hợp với điều kiện và yêu cầu của phát triển. Trong khi mô hình tăng trưởng theo chiều rộng đã tới hạn, các động lực tăng trưởng đang yếu và giảm dần, thì chủ trương, chính sách và cách thức quản lý, điều hành nền kinh tế không thay đổi, không khắc phục được các điểm nghẽn kìm hãm gia tăng năng suất và năng lực cạnh tranh của nền kinh tế và của DN. Do đó, tập trung gia tăng vốn đầu tư dưới các hình thức và kênh khác nhau (đầu tư nhà nước, đầu tư nước ngoài, gia tăng quy mô cung tiền và cung tín dụng.v.v...) vẫn là công cụ chủ yếu để thúc đẩy tăng trưởng. Chính sự gia tăng nhưng hiệu quả thấp và giảm dần là nguyên nhân cơ bản và chủ yếu của lạm phát cao và bất ổn kinh tế vĩ mô hiện nay.
Tương tự, thu và chi ngân sách trong mấy năm qua liên tục mở rộng; tổng thu ngân sách chiếm khoảng 28% GDP, tổng chi ngân sách lên đến 32-33% GDP, chưa kể các khoản chi ngoài cân đối ngân sách. Năm 2011, Chính phủ chủ trương thắt chặt tài khóa, giảm bội chi và thắt chặt tiền tệ để chống lạm phát, ổn định kinh tế vĩ mô, tuy vậy, cho đến nay, ước tính tài khóa năm 2011 vẫn phải mở rộng cả thu và chi. Theo số liệu của Bộ Tài chính, tổng thu NSNN năm nay ước tăng 20,6%, tổng chi tăng khoảng 19% so với thực hiện năm 2010.
Do mô hình tăng trưởng theo chiều rộng đã tới hạn nên chúng ta không đạt được các mục tiêu mong muốn mà còn tạo nên những tác động phụ tiêu cực. Đó là lạm phát tăng cao, mất cân đối vĩ mô và bất ổn kinh tế vĩ mô ngày càng gia tăng cả về quy mô và mức độ, làm hại đến tăng trưởng cả trước mắt và lâu dài. Để đạt được tăng trưởng cao và bền vững về trung và dài hạn, Việt Nam không có con đường nào khác ngoài việc phải đẩy mạnh cải cách, tái cơ cấu và chuyển đổi mô hình tăng trưởng.
Định hướng chính sách tái cơ cấu kinh tế
Quan điểm chỉ đạo về phát triển kinh tế
Đại hội Đảng lần thứ XI đã xác định “tái cơ cấu kinh tế, chuyển đổi mô hình tăng trưởng từ chủ yếu theo chiều rộng sang kết hợp hợp lý giữa chiều rộng và chiều sâu” là một trong những định hướng phát triển chủ yếu của chiến lược phát triển kinh tế - xã hội 2011-2020. Như vậy, năm 2012 sẽ là năm bước ngoặt khởi đầu của quá trình chuyền đổi nói trên và đây phải là nội dung cơ bản của kế hoạch 5 năm 2011-2016.
Quan điểm chỉ đạo đầu tiên là tăng trưởng kinh tế cao là quan trọng, nhưng không phải bằng mọi giá, mà là tăng trưởng cao kèm với các điều kiện chỉ số CPI không quá 5%/ năm; Tăng trưởng cao nhưng các cân đối vĩ mô phải vững chắc; Tăng trưởng mang lại lợi ích cho tất cả tầng lớp dân cư, mà cụ thể là đi liền với xóa đói, giảm nghèo bền vững; Tăng trưởng phải dựa chủ yếu vào tăng hiệu quả, tăng năng suất lao động, tăng giá trị gia tăng do kiến thức và kỹ năng của người lao động tạo ra. Cuối cùng là tăng trưởng thân thiện với môi trường.
Quan điểm chỉ đạo thứ hai là thực hiện đồng bộ và nhất quán các giải pháp tái cơ cấu kinh tế, chuyển đổi mô hình tăng trưởng, kiềm chế lạm phát, ổn định kinh tế vĩ mô và bảo đảm an sinh xã hội. Cả ba nội dung nói trên phải được thực hiện đồng thời, gắn với nhau và bổ sung cho nhau.
Quan điểm chỉ đạo thứ ba là tôn trọng quy luật thị trường và thực hiện vai trò của Nhà nước chủ yếu bằng các đòn bẩy kinh tế, can thiệp hành chính, nếu có, phải có thời hạn và chỉ trong trường hợp đặc biệt.
Quan điểm chỉ đạo thứ tư là thay đổi cơ bản vai trò của Nhà nước, từ thiên về chỉ đạo và kiểm soát sang kiến tạo và hỗ trợ phát triển.
Định hướng giải pháp chủ yếu
Tiếp tục thực hiện nhất quán và đầy đủ nội dung và tinh thần Kết luận số 02/KL-TW của Bộ Chính trị và Nghị quyết số 11/NQ - CP của Chính phủ về kiềm chế lạm phát, ổn định kinh tế vĩ mô, bảo đảm an sinh xã hội, từng bước bãi bỏ các biện pháp hành chính, chuyển sang điều hành chính sách tiền tệ chủ yếu bằng biện pháp kỹ thuật và kinh tế. Phấn đấu đưa lạm phát giảm xuống còn dưới 5%/năm vào cuối năm 2013; giảm thâm hụt ngân sách xuống dưới 3,5% GDP, giảm đáng kể thâm hụt cán cân vãng lai và chênh lệch tiết kiệm - đầu tư, chú ý gia tăng dự trữ ngoại tệ quốc gia, từng bước nâng cao giá trị đồng nội tệ, các cân đối vĩ mô dần ổn định chắc chắn, khi các biện pháp tái cơ cấu kinh tế được triển khai thực hiện có kết quả.
Những nhiệm vụ ưu tiên của tái cơ cấu kinh tế
Thứ nhất, là tái cơ cấu và nâng cao hiệu quả vốn đầu tư nhà nước. Phải từng bước giảm tỷ trọng vốn đầu tư nhà nước trong tổng vốn đầu tư xã hội, thu hẹp phạm vi và lĩnh vực tập trung vốn đầu tư nhà nước. Chỉ ưu tiên vốn này cho phát triển hạ tầng, nghiên cứu và ứng dụng khoa học công nghệ, phát triển nông nghiệp, nông thôn, nâng cao chất lượng giáo dục, y tế, chăm sóc cộng động và các dịch vụ xã hội khác. Không phân bố vốn đầu tư nhà nước vào các lĩnh vực mà tư nhân có khả năng thực hiện như nhà hàng, khách sạn, dịch vụ thương mại.v.v... Phải đổi mới căn bản chính sách, cơ chế và công cụ phân bố, quản lý và sử dụng vốn đầu tư nhà nước để khắc phục bằng được tình trạng đầu tư dàn trải, phân tán, không đồng bộ, đầu tư cả vào các dự án chưa cần thiết và kém hiệu quả.v.v... Muốn vậy, phải đổi mới cơ chế phân cấp quản lý đầu tư nhà nước theo hướng tập trung hơn trong lựa chọn dự án đầu tư và phân bổ vốn đầu tư, phối hợp tốt hơn giữa trung ương và địa phương trong thực hiện dự án đầu tư. Lấy hiệu quả kinh tế xã hội là tiêu chí cơ bản quyết định lựa chọn dự án đầu tư. Việc phân bố, quản lý và giám sát sử dụng vốn đầu tư phải thực hiện theo quy hoạch và kế hoạch quản lý đầu tư trung hạn (từ 3 đến 5 năm); phải xây dựng hệ thống thông tin quản lý đầu tư nhà nước, thực hiện công khai hóa thông tin và minh bạch hóa quá trình lựa chọn, phân bổ và thực hiện đầu tư đối với đầu tư nhà nước nói chung và từng dự án đầu tư cụ thể nói riêng; tăng cường giám sát của Quốc hội, nhân dân và các bên liên quan khác đối với lựa chọn dự án đầu tư, địa điểm đầu tư, phân bố và sử dụng vốn đầu tư cũng như thực hiện dự án đầu tư cụ thể.
Thứ hai, là đổi mới sâu sắc và toàn diện cơ cấu và cơ chế quản lý DNNN, nâng cao hiệu quả hoạt động của các DNNN, trước hết là các tập đoàn và tổng công ty nhà nước.
Thay đổi tư duy và cách thức quản lý nhà nước đối với DNNN, buộc các DNNN phải hoạt động hoàn toàn theo cơ chế thị trường. DNNN phải là các tổ chức định hướng thương mại thuần túy như tất cả DN khác, áp dụng và tuân thủ các điều kiện kinh doanh, chế độ quản lý như đối với tất cả các DN khác. Mỗi DNNN, nhất là các tập đoàn, tổng công ty nhà nước phải có mục tiêu, sứ mệnh và phạm vi kinh doanh rõ ràng, không được đầu tư kinh doanh ra ngoài phạm vi mà chủ sở hữu đã xác định. Các DNNN không được quyền tham gia trực tiếp hoặc gián tiếp vào các hoạt động liên quan đến quản lý nhà nước; không được ưu tiên hơn trong tiếp cận thông tin, tiếp cận các nguồn lực quốc gia; không có đặc quyền trong tiếp cận và thực hiện các cơ hội kinh doanh và không có những quyền kinh doanh riêng có chỉ dành cho các DNNN. Các DNNN kinh doanh thua lỗ, mất khả năng thanh toán phải bị phá sản như các các DN khác; Nhà nước không bảo lãnh, không khoanh nợ, giãn nợ và không thanh toán nợ thay cho các DN đó;
Phải thực hiện hợp lý, đầy đủ, có hiệu quả và hiệu lực quyền chủ sở hữu nhà nước tại DNNN. Trước hết, Chính phủ cần tuân thủ đầy đủ nguyên tắc (i) có cơ quan, đơn vị chuyên trách thực hiện vai trò là nhà đầu tư vốn nhà nước; (ii) thực hiện bảo toàn và phát triển vốn một cách thực chất, đầy đủ, có hệ thống; (iii) tách biệt về thể chế và tổ chức việc thực hiện chức năng chủ sở hữu nhà nước ra khỏi việc thưc hiện các chức năng khác; (iv) tách biệt về thể chế và tổ chức việc thực hiện quyền chủ sở hữu và quyền quản lý, điều hành hoạt động kinh doanh của DN; (v) Chính phủ phải tổ chức thực hiện thống nhất và tập trung tất cả các quyền và nghĩa vụ của chủ sở hữu tại các DN;
Thiết lập khung quản trị thống nhất và nâng cao hiệu lực quản trị nội bộ DNNN, trước hết là các tập đoàn và tổng công ty. Bắt đầu ngay việc xây dựng và áp dụng khung quản trị nội bộ với nội dung, công cụ và cách thức vận hành theo thực tiễn quốc tế đối với các tập đoàn và tổng công ty nhà nước. Trước mắt, đến năm 2013 các tổng công ty và tập đoàn kinh tế nhà nước phải hoàn thiện chế độ kế toán, lập báo cáo tài chính hợp nhất; thiết lập hệ thống thông tin giám sát và quản lý DN, gồm thông tin về tài chính, thông tin về hoạt động kinh doanh, thông tin về danh mục đầu tư, về các rủi ro và biến động bất thường liên quan.v.v... Thực hiện công khai hóa và minh bạch hóa thông tin đối với các tập đoàn, tổng công ty nhà nước theo chuẩn mực đang áp dụng cho các công ty niêm yết trên TTCK Việt Nam.
Cơ quan chuyên trách thực hiện quyền chủ sở hữu phải chỉ đạo bổ sung, sửa đổi điều lệ, soạn thảo và ban hành các quy chế quản trị nội bộ phù hợp, trong đó, ít nhất phải có (i) quy chế về đầu tư và mua sắm (tách biệt chế độ mua sắm của Chính phủ và chế độ mua sắm của DN); (ii) quy chế về lập ngân sách và quản lý chi tiêu, (iii) quy chế về chính sách tuyền dụng sử dụng, trả lương và thưởng, đào tạo và sa thải lao động; (iv) quy chế hoạt động của HĐQT, (v) quy chế hoạt động của Ban kiểm soát; (vi) quy chế kiểm tra, giám sát nội bộ (giám sát hoạt động sản xuất, kinh doanh, giám sát tài chính và giám sát rủi ro).v.v… Các quy chế nói trên chính là “luật lệ” hay thể chế vận hành tập đoàn, tổng công ty duy trì được thành một tổ chức thống nhất. Mỗi DN, tập đoàn và tổng công ty có quy chế riêng, phù hợp với hoàn cảnh, điều kiện và yêu cầu cụ thể của họ.
Thứ ba, là phải có bước đột phá về nâng cao tính minh bạch, bình đẳng, giảm phí tổn và rủi ro của môi trường kinh doanh; thực hiện ưu đãi đầu tư chủ động và có chọn lọc, thúc đẩy tái cơ cấu, nâng cao hiệu quả của các ngành sản xuất và dịch vụ. Tập trung phát triển kinh tế tư nhân, tạo điều kiện cho ra đời các tập đoàn kinh tế tư nhân mạnh, có sức cạnh tranh trong khu vực và trên thế giới.
Mọi chủ trương của Đảng, chính sách và pháp luật của Nhà nước phải được áp dụng công bằng, bình đẳng đối với tất cả các DN, không phân biệt thành phần kinh tế. Môi trường kinh doanh phải được tiếp tục hoàn thiện theo hướng vừa hỗ trợ, khuyến khích các nhà đầu tư nỗ lực kinh doanh hiệu quả để tìm kiếm lợi nhuận; ngăn ngừa, hạn chế và triệt tiêu các hành vi và hình thức “xin-cho” , “ban-phát” trong tiếp cần các nguồn tài nguyên thiên nhiên, tiếp cận vốn, tiếp cận thông tin, tiếp cận quyền và cơ hội kinh doanh để trục lợi. Tiếp tục đẩy mạnh thực hiện cải cách thủ tục hành chính nhằm cải thiện môi trường kinh doanh. Chủ động hướng dẫn, tập trung đầu tư vào các ngành sản xuất và dịch vụ có đóng góp lớn vào tăng trưởng kinh tế, có lợi thế cạnh tranh, tiềm năng phát triển, gồm: Chế biến lương thực, thực phầm, đồ uống và nước giải khát; Nuôi trồng và chế biến hải sản; Sản xuất giống và thức ăn chăn nuôi; Sản xuất thiết bị, máy móc và phụ tùng, nhất là phục vụ sản xuất nông nghiệp, chế biến nông sản thực phẩm; Luyện kim và hoá chất; Điện tử và máy tính; Đồ điện dân dụng; Hệ thống kho bãi, nhất là kho chứa nông sản, thủy sản và hệ thống dịch vụ bán buôn; Dịch vụ viễn thông, tài chính ngân hàng, giáo dục và đào tạo.
Thứ tư, là tái cơ cấu hệ thống tài chính, trước hết là hệ thống ngân hàng thương mại. Rà soát, sắp xếp, sáp nhập các tổ chức tín dụng yếu kém, kiểm soát tốc độ gia tăng tổng tín dụng, nâng cao chất lượng tín dụng, giảm tỷ trọng nợ xấu; giảm dần sự phụ thuộc quá mức của kinh tế vào vốn tín dụng ngân hàng để phát triển. Nâng cao chất lượng và hiệu lực quản trị của các tổ chức tài chính, nâng cao năng lực và hiệu lực giám sát của các cơ quan quản lý nhà nước có liên quan đối với hệ thống tài chính.
Thứ năm, là chú trọng tái cơ cấu kinh tế vùng theo hướng vừa tăng cường liên kết, khai thác, phát huy đúng tiềm năng, thế mạnh của từng vùng, vừa tạo điều kiện cho phát triển và phát huy vai trò đầu tàu của vùng kinh tế trọng điểm, tạo sức lan toả, lôi cuốn các vùng kinh tế khác. Tập trung phát triển các mạng và chuỗi giá trị sản xuất có lợi thế của từng vùng, giảm phụ thuộc vào nhập khẩu từ bên ngoài, nâng cao năng suất và hiệu quả hoạt động sản xuất hiện hành và thúc đẩy đổi mới, nâng cấp sản phẩm, chuyển từ sản xuất có giá trị gia tăng thấp lên sản phẩm hoặc công đoạn sản xuất có năng suất, giá trị gia tăng cao hơn…