Kinh tế - tài chính vĩ mô
Kinh tế Việt Nam - Tiềm năng tăng trưởng trung hạn (19-01-2012 9:29:56)
Triển vọng tăng trưởng trung hạn của Việt Nam ngày càng phụ thuộc vào khả năng chuyển dịch từ mô hình tăng trưởng dựa trên yếu tố tích lũy sang mô hình tăng trưởng dựa trên hiệu suất sử dụng vốn, đất đai và nguồn nhân lực cao hơn.

Đó là ý kiến của Chuyên gia kinh tế trưởng của World Bank tại Việt Nam Depak Mishra, tại Hội thảo khoa học "Kinh tế Việt Nam - Tiềm năng tăng trưởng trung hạn" diễn ra hôm nay, 18/01, tại Hà Nội. Cũng theo chuyên gia này, việc tăng năng suất, đẩy mạnh cải cách cơ cấu cũng sẽ tạo điều kiện để Việt Nam thu hút 85 triệu việc làm trong ngành sản xuất mà Trung Quốc đang dần chuyển đi do mức lương tăng lên và nước này nâng cao chuỗi giá trị.

Các chuyên gia đã  báo cáo về tiềm năm tăng trưởng của Việt Nam trong giai đoạn 2011-2015 do Trung tâm Thông tin và dự báo kinh tế xã hội quốc gia, Bộ Kế hoạch và Đầu tư  phối hợp Viện Nghiên cứu kinh tế xã hội Ireland, đã tính toán một cách chi tiết các yếu tố chính của nền kinh tế Việt Nam hiện nay để đưa ra các dự báo.

Trong trung hạn, sản lượng tiềm năng (sản lượng tiềm năng của một nền kinh tế được xác định bởi các yếu tố đầu vào, bao gồm vốn, lao động và  công nghệ sẵn có) đóng một vai trò quan trọng trong việc đánh giá triển vọng kinh tế và thực hiện chính sách kinh tế, bao gồm cả chính sách tiền tệ. Tăng trưởng kinh tế do sự tăng lên của năng lực sản xuất. Trong những năm qua, Việt Nam là một trong những nước có nền kinh tế tăng trưởng cao và ổn định, bình quân thời kỳ 2000-2010 đạt 7%, đưa Việt Nam từ nhóm nước thu nhập thấp sang nhóm nước có mức thu nhập trung bình thấp.

Theo ông PGS.TS Đỗ Văn Thành, Phó Giám đốc Trung tâm Thông tin và Dự báo Kinh tế - Xã hội quốc gia, Bộ Kế hoạch và Đầu tư, trong suốt 11 năm qua, nếu so sánh tốc độ tăng trưởng GDP của Việt Nam luôn cao hơn tốc độ tăng GDP trung bình thế giới, tốc độ tăng GDP của Việt Nam so với các nước Đông Á - Thái Bình Dương luôn đứng mức thứ hai sau Trung Quốc. Tuy nhiên, nếu như những năm 2000 - 2002, Việt Nam luôn là nước có tỷ lệ lạm phát thấp nhất trong nhóm các nước đang phát triển vùng Đông Á - Thái Bình Dương thì những năm 2003 đến nay lạm phát của Việt Nam luôn ở mức cao.

Thực tế, năng lực sản xuất của nền kinh tế được xác định từ các yếu tố đầu vào bao gồm vốn, lao động và năng suất các nhân tố tổng hợp (TFP).

Theo GS. John FitzGerald, yếu tố năng suất các nhân tố tổng hợp (TFP) rất quan trọng tới nền kinh tế, theo đó, một nền kinh tế nếu biết cách khai thác nhiều năng lực mỗi lao động thông qua công nghệ, phương tiện sản xuất tốt hơn sẽ dẫn đến sản lượng và thu nhập cao hơn mà không cần phải tăng thêm vốn đầu tư. Thực tiễn cho thấy, lượng vốn có thể đầu tư mà không phải vay mượn thường có hạn và việc vay mượn vốn nhiều khi có hại cho nền kinh tế.

Xem xét đến các yếu tố đầu vào đối với tăng trưởng kinh tế Việt Nam,  cùng với quá  trình dịch chuyển cơ cấu kinh tế, cơ cấu vốn  đầu tư theo khu vực kinh tế có sự thay đổi mạnh mẽ. Nếu như năm 2000, tỷ trọng khu vực nông - lâm - thủy sản trong tổng vốn đầu tư thực hiện là 13,85% thì đến năm 2010 giảm xuống còn 6,15%. Ngược lại, tỷ trọng vốn đầu tư khu vực dịch vụ tăng dần hàng năm từ mức 46,93% (năm 2000) lên mức 52,56% (2010), trong khi tỷ trọng này ở khu vực công nghiệp - xây dựng luôn dao động trong khoảng 39,23% - 41,29%.

Cùng với đó, tỷ trọng lao động của khu vực nông - lâm - thủy sản liên tục giảm qua các năm và  có sự dịch chuyển sang khu vực công nghiệp - xây dựng và khu vực dịch vụ liên tục tăng qua các năm.

Theo dự báo của nhóm Nghiên cứu Trung tâm Thông tin và Dự báo Kinh tế - Xã hội quốc gia,  trong 2 năm đầu của giai đoạn 2011-2015, tăng trưởng của nền kinh tế cũng như tăng trưởng của các khu vực kinh tế vẫn ở mức độ tăng trưởng trung bình. Theo đó, năm 2012 tăng trưởng GDP được dự báo chỉ đạt ở mức 6,04% và cao hơn trong những năm tiếp theo ở mức trên 7%.

Theo Chinhphu.vn
[Trở về]
BÀI VIẾT LIÊN QUAN:

Trang  1